Nam quốc sơn hà chữ Hán: đọc từng chữ theo Hán Việt và pinyin
Nam quốc sơn hà chữ Hán chỉ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ: 南国山河南帝居… Bạn đã thuộc bản phiên âm “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” từ hồi đi học. Nhưng đặt chữ Hán trước mặt và đọc bằng tiếng phổ thông, nhiều người học tiếng Trung lại đứng hình. Bài này đọc từng chữ: âm Hán Việt, pinyin, bộ thủ, và chữ nào còn sống trong tiếng Trung hôm nay.
Nguyên văn Nam quốc sơn hà: chữ Hán, Hán Việt, pinyin
Bảng dưới dùng chữ giản thể, dạng chữ của tiếng Trung phổ thông hiện nay và của mọi bài học trên 123tiengtrung.com. Bài thơ xưa được chép bằng chữ phồn thể, xem ghi chú ngay sau bảng.
| Câu | Chữ Hán (giản thể) | Phiên âm Hán Việt | Pinyin |
|---|---|---|---|
| Câu một | 南国山河南帝居 | Nam quốc sơn hà Nam đế cư | Nán guó shān hé nán dì jū |
| Câu hai | 截然定分在天书 | Tiệt nhiên định phận tại thiên thư | Jiérán dìng fèn zài tiānshū |
| Câu ba | 如何逆虏来侵犯 | Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm | Rúhé nì lǔ lái qīnfàn |
| Câu bốn | 汝等行看取败虚 | Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư | Rǔ děng xíng kàn qǔ bài xū |
Bản chữ phồn thể (cách viết trong sách xưa): 南國山河南帝居,截然定分在天書。如何逆虜來侵犯,汝等行看取敗虛。 Có sáu chữ khác bản giản thể: 國 → 国, 書 → 书, 虜 → 虏, 來 → 来, 敗 → 败, 虛 → 虚. Người đi Đài Loan sẽ gặp đúng các mặt chữ phồn thể này; pinyin không đổi. Chữ trên web là giản thể.
Bấm nghe cả bài thơ đọc bằng tiếng phổ thông, rồi đọc theo từng câu:
Dịch nghĩa từng câu (bản dịch sát chữ của đội biên soạn, để bạn đối chiếu với từng chữ Hán):
- Câu một: Sông núi nước Nam là nơi vua Nam ở.
- Câu hai: Điều đó đã được định phận rõ ràng trong sách trời.
- Câu ba: Cớ sao lũ giặc ngang ngược lại đến xâm phạm?
- Câu bốn: Bọn bay rồi sẽ thấy mình chuốc lấy thất bại tan tác.
Còn đây là bản dịch thơ phổ biến mà nhiều thế hệ học sinh đã thuộc lòng (bài này không ghi tên người dịch):
- Sông núi nước Nam vua Nam ở
- Vằng vặc sách trời chia xứ sở
- Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
- Chúng mày nhất định phải tan vỡ
Để ý chữ cuối của câu một, hai và bốn: 居, 书, 虚. Đọc Hán Việt là cư, thư, hư, cùng vần “ư”. Đọc pinyin là jū, shū, xū, vẫn gần vần nhau. Riêng chữ u trong jū và xū thật ra là ü, khác chữ u trong shū. Bạn tập phân biệt hai âm này ở Bảng pinyin.
Phân tích từng chữ: Hán Việt, pinyin, bộ thủ và nghĩa
Mỗi chữ dưới đây có ba lớp: âm Hán Việt bạn đã quen, pinyin để nói tiếng Trung hôm nay, và nghĩa trong bài thơ. Bộ thủ ghi theo cách xếp chữ của từ điển Khang Hy. Câu ví dụ là câu hiện đại trong kho bài học của web.
Câu một: 南国山河南帝居
南 nam / nán: phương nam, bộ 十 (thập). Chữ này bạn gặp mỗi ngày trong 越南 Yuènán (Việt Nam). 南国 là “nước phương Nam”. Hai chữ 南 trong câu đọc giống nhau: nán. Trong hội thoại mẫu “Lần đầu vào chợ quần áo Bắc Kinh”, một người Việt tự giới thiệu:
Câu trên có luôn chữ 河 trong 河内 Hénèi (Hà Nội). Muốn nói miền Nam, miền Bắc thì dùng 南方 nánfāng và 北方 běifāng, như câu mẫu bàn chuyện chấm gỏi cuốn:
国 quốc / guó: nước. Bản giản thể là bộ 囗 (vi, vây quanh) bọc chữ 玉 (ngọc). Từ hiện đại hay gặp: 国家 guójiā (quốc gia), 中国, 外国. Câu trong bài đọc “Cuộc trò chuyện tình cờ trên chuyến tàu”:
山河 sơn hà / shān hé: núi sông, nghĩa rộng là đất nước. Tách riêng thì 山 và 河 vẫn là từ thường ngày: 爬山 páshān (leo núi), 河 hé (sông). Ghép thành 山河 thì mang màu văn chương. Chữ 山 trong một câu kể chuyện du lịch:
帝 đế / dì: vua, bộ 巾 (cân). Tiếng Trung hôm nay nói vua là 皇帝 huángdì (hoàng đế). Nhiều sách giảng rằng chữ 帝 trong 南帝 đặt vua nước Nam ngang hàng với vua phương Bắc.
居 cư / jū: ở, bộ 尸 (thi). Chữ này còn sống trong 邻居 línjū (lân cư, tức hàng xóm) và 居住 jūzhù (cư trú). Câu kết của bài đọc “Mối quan hệ với hàng xóm”:
Câu hai: 截然定分在天书
截然 tiệt nhiên / jiérán: rạch ròi, dứt khoát. 截 nghĩa gốc là cắt đứt, bộ 戈 (qua). Bạn gặp 截 hằng ngày trong 截图 jiétú (chụp màn hình). Còn 截然 hôm nay chủ yếu đi trong cụm 截然不同 jiérán bùtóng (khác hẳn nhau), thuộc từ vựng HSK cấp cao. Câu dưới nằm trong một bài đọc cấp cao về kinh tế học hành vi; 然而 (tuy nhiên) nối với ý của câu trước:
定 định / dìng: định, đã yên, bộ 宀 (miên, mái nhà). Từ hiện đại quen nhất là 决定 juédìng (quyết định):
分 phận / fèn: phần, phận. Đây là chữ đáng học nhất trong câu. 分 có hai âm, và âm Hán Việt cũng tách đúng thành hai: nghĩa “chia” đọc fēn, Hán Việt phân (分开 fēnkāi, tách ra); nghĩa “phần, phận” đọc fèn, Hán Việt phận (本分 běnfèn, bổn phận). 定分 là phận đã định, nên đọc fèn.
在 tại / zài: ở, tại. Chữ này giữ nguyên nghĩa trong tiếng Trung hôm nay, như 在家 (ở nhà), 在河内 (ở Hà Nội).
天书 thiên thư / tiānshū: sách trời. Câu thơ nói ranh giới đã được ghi trong sách trời. Tiếng Trung hôm nay vẫn dùng 天书, nhưng nghĩa đã khác: chữ nghĩa khó hiểu, đọc như đọc sách trời.
Chữ 书 shū (thư) đứng riêng là sách, như 看书 kànshū (đọc sách) trong câu HSK1 rất ngắn:
Câu ba: 如何逆虏来侵犯
如何 như hà / rúhé: thế nào, cớ sao. Trong bài là câu hỏi vặn: “cớ sao lại dám…”. Nghĩa “cớ sao” này nay nói là 为什么 wèishénme. Tiếng Trung hôm nay vẫn dùng 如何, nhưng là lối viết trang trọng và chỉ còn nghĩa “thế nào, bằng cách nào” (nói thường là 怎么 zěnme, 怎样 zěnyàng). Câu trong một bài đọc về trí tuệ nhân tạo:
逆虏 nghịch lỗ / nì lǔ: kẻ giặc ngang ngược. 逆 nghịch, bộ 辶 (sước), nghĩa gốc là đi ngược, như 逆风 nìfēng (ngược gió). 虏 lỗ, bộ 虍 (hô, vằn hổ), nghĩa gốc là bắt người làm tù binh; hôm nay còn trong 俘虏 fúlǔ (tù binh). Cả cụm 逆虏 là lối nói cổ, không dùng trong lời nói thường ngày.
来 lai / lái: đến. Chữ HSK1, nghĩa giữ nguyên tới hôm nay.
侵犯 xâm phạm / qīnfàn: lấn vào, phạm vào. Đây là từ còn nguyên dạng và nguyên nghĩa trong tiếng Trung hôm nay, hay đi với quyền lợi, đời tư, bản quyền. 侵 bộ 亻 (nhân đứng), 犯 bộ 犭 (khuyển).
Chữ 犯 đứng trong từ khác vẫn giữ nghĩa “phạm”, như 犯错 fàncuò (phạm lỗi). Câu trong bài đọc về thành ngữ 亡羊补牢 (vong dương bổ lao, mất bò mới lo làm chuồng):
Câu bốn: 汝等行看取败虚
汝等 nhữ đẳng / rǔ děng: bọn bay, các ngươi. 汝 là “mày, ngươi” trong văn cổ, bộ 氵 (thuỷ). 等 ở đây đánh dấu số nhiều, giống “bọn, các”. Hôm nay 等 thường là “đợi” (等一下) hoặc “vân vân”; muốn nói “các người” thì dùng 你们 nǐmen.
行看 hành khan / xíng kàn: rồi sẽ thấy. 行 ở đây là “sắp, rồi sẽ”. Hôm nay 行 có hai âm: xíng (được, ổn) và háng (银行 yínháng, ngân hàng), khớp với hai âm Hán Việt hành và hàng. Chữ 看 trong bản phiên âm quen thuộc đọc là “khan”, còn âm Hán Việt quen hơn là “khán” (khán giả); pinyin hôm nay là kàn (nhìn, xem, đọc).
取 thủ / qǔ: lấy, chuốc lấy, bộ 又 (hựu). Hôm nay 取 vẫn là “lấy”, như 取钱 qǔqián (rút tiền).
败虚 bại hư / bài xū: thua tan tác, tan vỡ. 败 bại là thua, sống trong 失败 shībài (thất bại). 虚 hư là trống rỗng, như 虚心 xūxīn (khiêm tốn, không tự mãn). Để ý 虚 và 虏 ở câu ba cùng mang bộ 虍. Câu trong bài đọc “Cách tôi đối mặt với thất bại”:
Văn ngôn trong bài khác tiếng Trung hôm nay ở đâu
Bài thơ viết bằng văn ngôn (文言 wényán), lối văn viết của chữ Hán thời xưa. Tiếng Trung bạn đang học là bạch thoại (白话 báihuà), viết gần với lời nói. Ba khác biệt dễ thấy:
- Một chữ là một từ. Văn ngôn hay dùng từ một chữ: 居 (ở), 来 (đến), 取 (lấy). Tiếng Trung hôm nay chuộng từ hai chữ: 居住, 失败, 国家.
- Không có hư từ của tiếng hiện đại. Bài thơ không có 的, 了, 吗; văn ngôn có hư từ riêng như 之, 乎, 也. Câu ba là câu hỏi mà không cần 吗, vì 如何 đã mang ý hỏi.
- Đại từ và từ xưng hô cổ. 汝等 (bọn bay) nay nói 你们; 帝 (vua) nay nói 皇帝.
| Trong bài thơ | Tiếng Trung hôm nay | Pinyin | Nghĩa |
|---|---|---|---|
| 汝等 | 你们 | nǐmen | các người, bọn bay |
| 如何 | 为什么 | wèishénme | cớ sao, vì sao (nghĩa trong bài thơ) |
| 居 | 住 / 居住 | zhù / jūzhù | ở, cư trú |
| 帝 | 皇帝 | huángdì | vua |
| 行看 | 很快就会看到 | hěn kuài jiù huì kàndào | rồi sẽ thấy |
| 取败 | 失败 | shībài | chuốc thua, thất bại |
Vì vậy, đọc được bài thơ bằng pinyin chưa có nghĩa là người nghe hiểu ngay như nghe câu nói thường. Ở Trung Quốc, văn ngôn cũng là phần học sinh phải học riêng trong trường. Với người Việt, âm Hán Việt lại là lợi thế để đoán nghĩa.
Tự kiểm tra: bạn đọc bài thơ bằng tiếng Trung đến đâu?
Đánh dấu từng dòng dưới đây. Dòng nào chưa làm được là chỗ nên học trước.
- Đọc thuộc bản phiên âm Hán Việt
- Nhận mặt chữ 南, 国, 山, 河
- Đọc câu một bằng pinyin, đúng thanh
- Biết 分 trong 定分 đọc fèn, không phải fēn
- Đặt được một câu hiện đại với 侵犯 hoặc 失败
Dừng ở hai dòng đầu là chuyện thường. Âm Hán Việt giúp bạn nhận nghĩa, nhưng không cho bạn thanh điệu tiếng phổ thông. Giữa thanh Hán Việt và thanh pinyin không có quy tắc một đổi một, như bảng dưới đây cho thấy với chính câu đầu tiên:
| Chữ | Hán Việt | Pinyin | Thanh pinyin |
|---|---|---|---|
| 南 | nam (thanh ngang) | nán | thanh 2 |
| 山 | sơn (thanh ngang) | shān | thanh 1 |
| 国 | quốc (thanh sắc) | guó | thanh 2 |
| 河 | hà (thanh huyền) | hé | thanh 2 |
| 帝 | đế (thanh sắc) | dì | thanh 4 |
| 居 | cư (thanh ngang) | jū | thanh 1 |
Nam và sơn cùng thanh ngang, nhưng nán là thanh 2 còn shān là thanh 1. Quốc và đế cùng thanh sắc, nhưng guó là thanh 2 còn dì là thanh 4. Nên với mỗi chữ, bạn học thanh pinyin riêng, đừng suy từ dấu tiếng Việt. Lợi thế và bẫy của âm Hán Việt được bàn kỹ hơn trong bài Âm Hán Việt khi học tiếng Trung.
Dùng bài thơ để luyện tiếng Trung: làm theo từng bước
Bài thơ đã thuộc lòng là tài liệu luyện chữ tiện: nghĩa đã nắm, chỉ còn mặt chữ và cách đọc. Mỗi buổi một câu là đủ.
- 1Đọc câu Hán Việt, ghép từng âm với từng chữ Hán
- 2Chép pinyin có dấu thanh lên trên từng chữ
- 3Đọc to cả câu bằng pinyin, chậm, rõ từng thanh
- 4Mỗi chữ tìm một từ hiện đại: 居 → 邻居, 败 → 失败
- 5Tập viết những chữ nhiều nét: 截, 逆, 虏, 虚
Bước bốn là bước làm bài thơ có ích cho tiếng Trung giao tiếp. Chữ cổ chỉ thật sự thuộc khi bạn gặp lại nó trong một câu hôm nay, như 邻居 trong chuyện hàng xóm hay 失败 trong chuyện thi cử. Muốn nhớ mặt chữ lâu, xem thêm cách làm trong bài Cách nhớ mặt chữ tiếng Trung.
Bối cảnh lịch sử: truyền thuyết và những điều còn bàn
Nam quốc sơn hà là bài thơ chữ Hán theo thể thất ngôn tứ tuyệt: bốn câu, mỗi câu bảy chữ. Tên gọi quen thuộc lấy từ bốn chữ đầu. Trong nhà trường, bài thơ thường được giới thiệu là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.
Câu chuyện quen thuộc nhất gắn bài thơ với Lý Thường Kiệt, trong cuộc kháng chiến chống quân Tống ở phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077. Truyền thuyết kể rằng một đêm, quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ vang ra từ đền thờ thần, thường được kể là đền thờ hai anh em Trương Hống, Trương Hát.
Giới sử học và văn học vẫn còn tranh luận về tác giả và thời điểm ra đời. Bài thơ không có bản gốc ký tên. Có tài liệu cổ kể bài thơ vang lên trong cuộc chống Tống thời Lê Hoàn, năm 981. Văn bản cũng có nhiều dị bản khác nhau ở vài chữ; chẳng hạn câu hai có bản chép 定分 (định phận), có bản chép 分定 (phận định). Bài này dùng bản quen thuộc trong nhà trường và chỉ bàn về chữ nghĩa.
Làm trên 123tiengtrung.com thế nào
Web không có bài học riêng về thơ cổ hay văn ngôn, nhưng chữ trong bài thơ nằm sẵn trong nhiều mục. Trên 123tiengtrung.com, bạn mở:
- Âm Hán Việt: mở Từ vựng, mục Nhớ từ qua âm Hán Việt. Từ xếp theo cấp HSK, mỗi từ kèm âm Hán Việt. Mục này không có ô tra chữ tự do, nên chữ cổ như 汝, 虏 sẽ không có.
- Bộ thủ: mở Bộ thủ. Bộ 虍 (vằn hổ) có chữ ví dụ 虚, bộ 目 có 看, bộ 刀 có 分, bộ 竹 có 等. Các phần của chữ được tô màu, có thứ tự nét. Mục Bộ thủ không ghi âm Hán Việt.
- Pinyin và thanh điệu: dùng Bảng pinyin để đọc đúng jū, shū, xū, và Luyện thanh điệu để tách thanh 1 với thanh 2 như shān và nán. Bảng ghép âm và hai bài đầu của Bảng pinyin dùng miễn phí; các bài sau có ở gói Premium hoặc trong thời gian dùng thử.
- Tập viết: ở gói Premium, bấm nút “PDF luyện viết” trên thẻ từ để tạo trang tập viết cho chữ đó. Mở thẳng trang Luyện viết thì chưa chọn được chữ.
- Đọc câu hiện đại: phần lớn câu ví dụ ở trên lấy từ mục Đọc hiểu. Bấm từng cụm để xem pinyin và nghĩa, ví dụ bài Cách tôi đối mặt với thất bại hay Mối quan hệ với hàng xóm.
Giới hạn cần biết: chữ trên web là giản thể, và web không chấm phát âm tự động. Khi đọc to bài thơ, bạn tự ghi âm bằng điện thoại rồi nghe lại, so từng thanh với pinyin đã chép.
Hỏi đáp về Nam quốc sơn hà chữ Hán
Câu hỏi thường gặp
Nam quốc sơn hà đọc bằng tiếng Trung thế nào?
Đọc theo pinyin: Nán guó shān hé nán dì jū, jiérán dìng fèn zài tiānshū, rúhé nì lǔ lái qīnfàn, rǔ děng xíng kàn qǔ bài xū. Đây là cách đọc từng chữ theo tiếng phổ thông hiện nay.
Vì sao 分 trong bài đọc là “phận”, không phải “phân”?
Chữ 分 có hai âm. Nghĩa “chia” đọc fēn, Hán Việt là phân. Nghĩa “phần, phận” đọc fèn, Hán Việt là phận. Trong 定分, chữ này chỉ phận đã định nên đọc fèn.
Ai là tác giả bài thơ?
Nhiều sách ghi là Lý Thường Kiệt, gắn với trận chiến ở sông Như Nguyệt năm 1077. Giới nghiên cứu vẫn còn bàn về tác giả và thời điểm; có tài liệu cổ gắn bài thơ với thời Lê Hoàn, năm 981. Khi làm bài ở trường, bạn ghi theo sách giáo khoa đang học.
Từ nào trong bài còn dùng trong tiếng Trung hôm nay?
Dùng nguyên dạng: 侵犯 (xâm phạm), 在, 来, và 如何 ở lối viết trang trọng. Dùng trong từ ghép: 截然 trong 截然不同, 居 trong 邻居, 败 trong 失败. 天书 vẫn dùng nhưng nghĩa mới là chữ nghĩa khó hiểu. Còn 汝等, 逆虏 là lối nói cổ.
Bài do Đội biên soạn 123tiengtrung.com biên soạn, có hỗ trợ AI, đã kiểm duyệt. Cập nhật ngày 16/10/2026.