Nam quốc sơn hà chữ Hán: đọc từng chữ theo Hán Việt và pinyin

Tin tức · Cập nhật 16/10/2026

Nam quốc sơn hà: đọc từng chữ Hán bằng pinyin và Hán Việt

Nam quốc sơn hà chữ Hán chỉ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ: 南国山河南帝居… Bạn đã thuộc bản phiên âm “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” từ hồi đi học. Nhưng đặt chữ Hán trước mặt và đọc bằng tiếng phổ thông, nhiều người học tiếng Trung lại đứng hình. Bài này đọc từng chữ: âm Hán Việt, pinyin, bộ thủ, và chữ nào còn sống trong tiếng Trung hôm nay.

Nguyên văn Nam quốc sơn hà: chữ Hán, Hán Việt, pinyin

Bảng dưới dùng chữ giản thể, dạng chữ của tiếng Trung phổ thông hiện nay và của mọi bài học trên 123tiengtrung.com. Bài thơ xưa được chép bằng chữ phồn thể, xem ghi chú ngay sau bảng.

CâuChữ Hán (giản thể)Phiên âm Hán ViệtPinyin
Câu một南国山河南帝居Nam quốc sơn hà Nam đế cưNán guó shān hé nán dì jū
Câu hai截然定分在天书Tiệt nhiên định phận tại thiên thưJiérán dìng fèn zài tiānshū
Câu ba如何逆虏来侵犯Như hà nghịch lỗ lai xâm phạmRúhé nì lǔ lái qīnfàn
Câu bốn汝等行看取败虚Nhữ đẳng hành khan thủ bại hưRǔ děng xíng kàn qǔ bài xū

Bản chữ phồn thể (cách viết trong sách xưa): 南國山河南帝居,截然定分在天書。如何逆虜來侵犯,汝等行看取敗虛。 Có sáu chữ khác bản giản thể: 國 → 国, 書 → 书, 虜 → 虏, 來 → 来, 敗 → 败, 虛 → 虚. Người đi Đài Loan sẽ gặp đúng các mặt chữ phồn thể này; pinyin không đổi. Chữ trên web là giản thể.

Bấm nghe cả bài thơ đọc bằng tiếng phổ thông, rồi đọc theo từng câu:

南国山河南帝居,截然定分在天书。如何逆虏来侵犯,汝等行看取败虚。Nán guó shān hé nán dì jū, Jiérán dìng fèn zài tiānshū. Rúhé nì lǔ lái qīnfàn, Rǔ děng xíng kàn qǔ bài xū.Sông núi nước Nam là nơi vua Nam ở. Điều đó đã được định phận rõ ràng trong sách trời. Cớ sao lũ giặc ngang ngược lại đến xâm phạm? Bọn bay rồi sẽ thấy mình chuốc lấy thất bại tan tác.

Dịch nghĩa từng câu (bản dịch sát chữ của đội biên soạn, để bạn đối chiếu với từng chữ Hán):

  1. Câu một: Sông núi nước Nam là nơi vua Nam ở.
  2. Câu hai: Điều đó đã được định phận rõ ràng trong sách trời.
  3. Câu ba: Cớ sao lũ giặc ngang ngược lại đến xâm phạm?
  4. Câu bốn: Bọn bay rồi sẽ thấy mình chuốc lấy thất bại tan tác.

Còn đây là bản dịch thơ phổ biến mà nhiều thế hệ học sinh đã thuộc lòng (bài này không ghi tên người dịch):

Để ý chữ cuối của câu một, hai và bốn: 居, 书, 虚. Đọc Hán Việt là cư, thư, hư, cùng vần “ư”. Đọc pinyin là jū, shū, xū, vẫn gần vần nhau. Riêng chữ u trong jū và xū thật ra là ü, khác chữ u trong shū. Bạn tập phân biệt hai âm này ở Bảng pinyin.

Phân tích từng chữ: Hán Việt, pinyin, bộ thủ và nghĩa

Mỗi chữ dưới đây có ba lớp: âm Hán Việt bạn đã quen, pinyin để nói tiếng Trung hôm nay, và nghĩa trong bài thơ. Bộ thủ ghi theo cách xếp chữ của từ điển Khang Hy. Câu ví dụ là câu hiện đại trong kho bài học của web.

Câu một: 南国山河南帝居

南国山河南帝居,Nán guó shān hé nán dì jū,Sông núi nước Nam là nơi vua Nam ở.

南 nam / nán: phương nam, bộ 十 (thập). Chữ này bạn gặp mỗi ngày trong 越南 Yuènán (Việt Nam). 南国 là “nước phương Nam”. Hai chữ 南 trong câu đọc giống nhau: nán. Trong hội thoại mẫu “Lần đầu vào chợ quần áo Bắc Kinh”, một người Việt tự giới thiệu:

我 是 越南人 , 在 河内 开 服装店 。wǒ shì Yuènán rén , zài Hénèi kāi fúzhuāng diàn .Em là người Việt Nam , mở tiệm quần áo ở Hà Nội .Nghe cả bài ›

Câu trên có luôn chữ 河 trong 河内 Hénèi (Hà Nội). Muốn nói miền Nam, miền Bắc thì dùng 南方 nánfāng và 北方 běifāng, như câu mẫu bàn chuyện chấm gỏi cuốn:

越南南方人 蘸 花生酱 , 北方人 蘸 鱼露 。Yuènán nánfāng rén zhàn huāshēng jiàng , běifāng rén zhàn yúlù .Người miền Nam Việt Nam chấm tương lạc , người miền Bắc chấm nước mắm .Nghe cả bài ›

国 quốc / guó: nước. Bản giản thể là bộ 囗 (vi, vây quanh) bọc chữ 玉 (ngọc). Từ hiện đại hay gặp: 国家 guójiā (quốc gia), 中国, 外国. Câu trong bài đọc “Cuộc trò chuyện tình cờ trên chuyến tàu”:

老人 年轻时 当过 水手, 去过 很多 国家lǎo rén nián qīng shí dāng guò shuǐ shǒu, qù guò hěn duō guó jiāCụ già lúc trẻ từng làm thủy thủ, từng đến rất nhiều quốc gia.Nghe cả bài ›

山河 sơn hà / shān hé: núi sông, nghĩa rộng là đất nước. Tách riêng thì 山 và 河 vẫn là từ thường ngày: 爬山 páshān (leo núi), 河 hé (sông). Ghép thành 山河 thì mang màu văn chương. Chữ 山 trong một câu kể chuyện du lịch:

我们 一起爬山, 一起看日出。wǒ men yì qǐ pá shān, yì qǐ kàn rì chū.Chúng tôi cùng leo núi, cùng ngắm bình minh.Nghe cả bài ›

帝 đế / dì: vua, bộ 巾 (cân). Tiếng Trung hôm nay nói vua là 皇帝 huángdì (hoàng đế). Nhiều sách giảng rằng chữ 帝 trong 南帝 đặt vua nước Nam ngang hàng với vua phương Bắc.

居 cư / jū: ở, bộ 尸 (thi). Chữ này còn sống trong 邻居 línjū (lân cư, tức hàng xóm) và 居住 jūzhù (cư trú). Câu kết của bài đọc “Mối quan hệ với hàng xóm”:

我很庆幸, 能遇到 这样的 好邻居。wǒ hěn qìng xìng, néng yù dào zhè yàng de hǎo lín jū.Tôi rất may mắn, có thể gặp được hàng xóm tốt như vậy.Nghe cả bài ›

Câu hai: 截然定分在天书

截然定分在天书。Jiérán dìng fèn zài tiānshū.Điều đó đã được định phận rõ ràng trong sách trời.

截然 tiệt nhiên / jiérán: rạch ròi, dứt khoát. 截 nghĩa gốc là cắt đứt, bộ 戈 (qua). Bạn gặp 截 hằng ngày trong 截图 jiétú (chụp màn hình). Còn 截然 hôm nay chủ yếu đi trong cụm 截然不同 jiérán bùtóng (khác hẳn nhau), thuộc từ vựng HSK cấp cao. Câu dưới nằm trong một bài đọc cấp cao về kinh tế học hành vi; 然而 (tuy nhiên) nối với ý của câu trước:

然而, 行为经济 学家 通过 大量实验, 揭示了 一个 截然不同的 真相。rán ér, xíng wéi jīng jì xué jiā tōng guò dà liàng shí yàn, jiē shì le yí gè jié rán bù tóng de zhēn xiàng.Tuy nhiên, các nhà kinh tế học hành vi thông qua hàng loạt thí nghiệm, phơi bày một sự thật hoàn toàn khác biệt.Nghe cả bài ›

定 định / dìng: định, đã yên, bộ 宀 (miên, mái nhà). Từ hiện đại quen nhất là 决定 juédìng (quyết định):

这个周末, 我决定 好好打扫 一下zhè ge zhōu mò, wǒ jué dìng hǎo hǎo dǎ sǎo yí xiàCuối tuần này, tôi quyết định dọn dẹp cho sạch sẽ.Nghe cả bài ›

分 phận / fèn: phần, phận. Đây là chữ đáng học nhất trong câu. 分 có hai âm, và âm Hán Việt cũng tách đúng thành hai: nghĩa “chia” đọc fēn, Hán Việt phân (分开 fēnkāi, tách ra); nghĩa “phần, phận” đọc fèn, Hán Việt phận (本分 běnfèn, bổn phận). 定分 là phận đã định, nên đọc fèn.

在 tại / zài: ở, tại. Chữ này giữ nguyên nghĩa trong tiếng Trung hôm nay, như 在家 (ở nhà), 在河内 (ở Hà Nội).

天书 thiên thư / tiānshū: sách trời. Câu thơ nói ranh giới đã được ghi trong sách trời. Tiếng Trung hôm nay vẫn dùng 天书, nhưng nghĩa đã khác: chữ nghĩa khó hiểu, đọc như đọc sách trời.

这份说明书像天书一样,我看不懂。Zhè fèn shuōmíngshū xiàng tiānshū yíyàng, wǒ kàn bu dǒng.Bản hướng dẫn này như sách trời vậy, tôi đọc không hiểu.

Chữ 书 shū (thư) đứng riêng là sách, như 看书 kànshū (đọc sách) trong câu HSK1 rất ngắn:

我 每天 在房间里 看书wǒ měitiān zài fángjiān lǐ kàn shūMỗi ngày tôi đọc sách trong phòng.Nghe cả bài ›

Câu ba: 如何逆虏来侵犯

如何逆虏来侵犯,Rúhé nì lǔ lái qīnfàn,Cớ sao lũ giặc ngang ngược lại đến xâm phạm?

如何 như hà / rúhé: thế nào, cớ sao. Trong bài là câu hỏi vặn: “cớ sao lại dám…”. Nghĩa “cớ sao” này nay nói là 为什么 wèishénme. Tiếng Trung hôm nay vẫn dùng 如何, nhưng là lối viết trang trọng và chỉ còn nghĩa “thế nào, bằng cách nào” (nói thường là 怎么 zěnme, 怎样 zěnyàng). Câu trong một bài đọc về trí tuệ nhân tạo:

归根结底, AI 只是 一个 工具, 如何 使用它, 决定权 始终 在 人类 手中guī gēn jié dǐ, A I zhǐ shì yí gè gōng jù, rú hé shǐ yòng tā, jué dìng quán shǐ zhōng zài rén lèi shǒu zhōngSuy cho cùng, AI chỉ là một công cụ, cách sử dụng nó, quyền quyết định luôn luôn nằm trong tay con người.Nghe cả bài ›

逆虏 nghịch lỗ / nì lǔ: kẻ giặc ngang ngược. 逆 nghịch, bộ 辶 (sước), nghĩa gốc là đi ngược, như 逆风 nìfēng (ngược gió). 虏 lỗ, bộ 虍 (hô, vằn hổ), nghĩa gốc là bắt người làm tù binh; hôm nay còn trong 俘虏 fúlǔ (tù binh). Cả cụm 逆虏 là lối nói cổ, không dùng trong lời nói thường ngày.

来 lai / lái: đến. Chữ HSK1, nghĩa giữ nguyên tới hôm nay.

侵犯 xâm phạm / qīnfàn: lấn vào, phạm vào. Đây là từ còn nguyên dạng và nguyên nghĩa trong tiếng Trung hôm nay, hay đi với quyền lợi, đời tư, bản quyền. 侵 bộ 亻 (nhân đứng), 犯 bộ 犭 (khuyển).

没经过同意就发别人的照片,可能会侵犯别人的隐私。Méi jīngguò tóngyì jiù fā biérén de zhàopiàn, kěnéng huì qīnfàn biérén de yǐnsī.Chưa được đồng ý mà đã đăng ảnh của người khác thì có thể xâm phạm quyền riêng tư của họ.

Chữ 犯 đứng trong từ khác vẫn giữ nghĩa “phạm”, như 犯错 fàncuò (phạm lỗi). Câu trong bài đọc về thành ngữ 亡羊补牢 (vong dương bổ lao, mất bò mới lo làm chuồng):

归根结底, "亡羊补牢" 提醒我们, 犯错 并不 可怕, 可怕的是 不去 弥补。guī gēn jié dǐ, "wáng yáng bǔ láo" tí xǐng wǒ men, fàn cuò bìng bù kě pà, kě pà de shì bú qù mí bǔ.Suy cho cùng, "vong dương bổ lao" nhắc nhở chúng ta, phạm sai lầm không hề đáng sợ, điều đáng sợ là không chịu bù đắp.Nghe cả bài ›

Câu bốn: 汝等行看取败虚

汝等行看取败虚。Rǔ děng xíng kàn qǔ bài xū.Bọn bay rồi sẽ thấy mình chuốc lấy thất bại tan tác.

汝等 nhữ đẳng / rǔ děng: bọn bay, các ngươi. 汝 là “mày, ngươi” trong văn cổ, bộ 氵 (thuỷ). 等 ở đây đánh dấu số nhiều, giống “bọn, các”. Hôm nay 等 thường là “đợi” (等一下) hoặc “vân vân”; muốn nói “các người” thì dùng 你们 nǐmen.

行看 hành khan / xíng kàn: rồi sẽ thấy. 行 ở đây là “sắp, rồi sẽ”. Hôm nay 行 có hai âm: xíng (được, ổn) và háng (银行 yínháng, ngân hàng), khớp với hai âm Hán Việt hành và hàng. Chữ 看 trong bản phiên âm quen thuộc đọc là “khan”, còn âm Hán Việt quen hơn là “khán” (khán giả); pinyin hôm nay là kàn (nhìn, xem, đọc).

取 thủ / qǔ: lấy, chuốc lấy, bộ 又 (hựu). Hôm nay 取 vẫn là “lấy”, như 取钱 qǔqián (rút tiền).

败虚 bại hư / bài xū: thua tan tác, tan vỡ. 败 bại là thua, sống trong 失败 shībài (thất bại). 虚 hư là trống rỗng, như 虚心 xūxīn (khiêm tốn, không tự mãn). Để ý 虚 và 虏 ở câu ba cùng mang bộ 虍. Câu trong bài đọc “Cách tôi đối mặt với thất bại”:

朋友告诉我, 失败 不是终点, 而是过程。péng yǒu gào sù wǒ, shī bài bú shì zhōng diǎn, ér shì guò chéng.Bạn tôi bảo, thất bại không phải điểm kết thúc, mà là một quá trình.Nghe cả bài ›

Văn ngôn trong bài khác tiếng Trung hôm nay ở đâu

Bài thơ viết bằng văn ngôn (文言 wényán), lối văn viết của chữ Hán thời xưa. Tiếng Trung bạn đang học là bạch thoại (白话 báihuà), viết gần với lời nói. Ba khác biệt dễ thấy:

Trong bài thơTiếng Trung hôm nayPinyinNghĩa
汝等你们nǐmencác người, bọn bay
如何为什么wèishénmecớ sao, vì sao (nghĩa trong bài thơ)
居住 / 居住zhù / jūzhùở, cư trú
帝皇帝huángdìvua
行看很快就会看到hěn kuài jiù huì kàndàorồi sẽ thấy
取败失败shībàichuốc thua, thất bại

Vì vậy, đọc được bài thơ bằng pinyin chưa có nghĩa là người nghe hiểu ngay như nghe câu nói thường. Ở Trung Quốc, văn ngôn cũng là phần học sinh phải học riêng trong trường. Với người Việt, âm Hán Việt lại là lợi thế để đoán nghĩa.

Tự kiểm tra: bạn đọc bài thơ bằng tiếng Trung đến đâu?

Đánh dấu từng dòng dưới đây. Dòng nào chưa làm được là chỗ nên học trước.

Bạn đọc Nam quốc sơn hà đến đâu?
  • Đọc thuộc bản phiên âm Hán Việt
  • Nhận mặt chữ 南, 国, 山, 河
  • Đọc câu một bằng pinyin, đúng thanh
  • Biết 分 trong 定分 đọc fèn, không phải fēn
  • Đặt được một câu hiện đại với 侵犯 hoặc 失败
Học tiếp phần dưới

Dừng ở hai dòng đầu là chuyện thường. Âm Hán Việt giúp bạn nhận nghĩa, nhưng không cho bạn thanh điệu tiếng phổ thông. Giữa thanh Hán Việt và thanh pinyin không có quy tắc một đổi một, như bảng dưới đây cho thấy với chính câu đầu tiên:

ChữHán ViệtPinyinThanh pinyin
南nam (thanh ngang)nánthanh 2
山sơn (thanh ngang)shānthanh 1
国quốc (thanh sắc)guóthanh 2
河hà (thanh huyền)héthanh 2
帝đế (thanh sắc)dìthanh 4
居cư (thanh ngang)jūthanh 1

Nam và sơn cùng thanh ngang, nhưng nán là thanh 2 còn shān là thanh 1. Quốc và đế cùng thanh sắc, nhưng guó là thanh 2 còn dì là thanh 4. Nên với mỗi chữ, bạn học thanh pinyin riêng, đừng suy từ dấu tiếng Việt. Lợi thế và bẫy của âm Hán Việt được bàn kỹ hơn trong bài Âm Hán Việt khi học tiếng Trung.

Dùng bài thơ để luyện tiếng Trung: làm theo từng bước

Bài thơ đã thuộc lòng là tài liệu luyện chữ tiện: nghĩa đã nắm, chỉ còn mặt chữ và cách đọc. Mỗi buổi một câu là đủ.

Học một câu thơ chữ Hán trong một buổi
  1. 1Đọc câu Hán Việt, ghép từng âm với từng chữ Hán
  2. 2Chép pinyin có dấu thanh lên trên từng chữ
  3. 3Đọc to cả câu bằng pinyin, chậm, rõ từng thanh
  4. 4Mỗi chữ tìm một từ hiện đại: 居 → 邻居, 败 → 失败
  5. 5Tập viết những chữ nhiều nét: 截, 逆, 虏, 虚

Bước bốn là bước làm bài thơ có ích cho tiếng Trung giao tiếp. Chữ cổ chỉ thật sự thuộc khi bạn gặp lại nó trong một câu hôm nay, như 邻居 trong chuyện hàng xóm hay 失败 trong chuyện thi cử. Muốn nhớ mặt chữ lâu, xem thêm cách làm trong bài Cách nhớ mặt chữ tiếng Trung.

Bối cảnh lịch sử: truyền thuyết và những điều còn bàn

Nam quốc sơn hà là bài thơ chữ Hán theo thể thất ngôn tứ tuyệt: bốn câu, mỗi câu bảy chữ. Tên gọi quen thuộc lấy từ bốn chữ đầu. Trong nhà trường, bài thơ thường được giới thiệu là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

Câu chuyện quen thuộc nhất gắn bài thơ với Lý Thường Kiệt, trong cuộc kháng chiến chống quân Tống ở phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077. Truyền thuyết kể rằng một đêm, quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ vang ra từ đền thờ thần, thường được kể là đền thờ hai anh em Trương Hống, Trương Hát.

Giới sử học và văn học vẫn còn tranh luận về tác giả và thời điểm ra đời. Bài thơ không có bản gốc ký tên. Có tài liệu cổ kể bài thơ vang lên trong cuộc chống Tống thời Lê Hoàn, năm 981. Văn bản cũng có nhiều dị bản khác nhau ở vài chữ; chẳng hạn câu hai có bản chép 定分 (định phận), có bản chép 分定 (phận định). Bài này dùng bản quen thuộc trong nhà trường và chỉ bàn về chữ nghĩa.

Làm trên 123tiengtrung.com thế nào

Web không có bài học riêng về thơ cổ hay văn ngôn, nhưng chữ trong bài thơ nằm sẵn trong nhiều mục. Trên 123tiengtrung.com, bạn mở:

Giới hạn cần biết: chữ trên web là giản thể, và web không chấm phát âm tự động. Khi đọc to bài thơ, bạn tự ghi âm bằng điện thoại rồi nghe lại, so từng thanh với pinyin đã chép.

Hỏi đáp về Nam quốc sơn hà chữ Hán

Câu hỏi thường gặp

Nam quốc sơn hà đọc bằng tiếng Trung thế nào?

Đọc theo pinyin: Nán guó shān hé nán dì jū, jiérán dìng fèn zài tiānshū, rúhé nì lǔ lái qīnfàn, rǔ děng xíng kàn qǔ bài xū. Đây là cách đọc từng chữ theo tiếng phổ thông hiện nay.

Vì sao 分 trong bài đọc là “phận”, không phải “phân”?

Chữ 分 có hai âm. Nghĩa “chia” đọc fēn, Hán Việt là phân. Nghĩa “phần, phận” đọc fèn, Hán Việt là phận. Trong 定分, chữ này chỉ phận đã định nên đọc fèn.

Ai là tác giả bài thơ?

Nhiều sách ghi là Lý Thường Kiệt, gắn với trận chiến ở sông Như Nguyệt năm 1077. Giới nghiên cứu vẫn còn bàn về tác giả và thời điểm; có tài liệu cổ gắn bài thơ với thời Lê Hoàn, năm 981. Khi làm bài ở trường, bạn ghi theo sách giáo khoa đang học.

Từ nào trong bài còn dùng trong tiếng Trung hôm nay?

Dùng nguyên dạng: 侵犯 (xâm phạm), 在, 来, và 如何 ở lối viết trang trọng. Dùng trong từ ghép: 截然 trong 截然不同, 居 trong 邻居, 败 trong 失败. 天书 vẫn dùng nhưng nghĩa mới là chữ nghĩa khó hiểu. Còn 汝等, 逆虏 là lối nói cổ.

Bài do Đội biên soạn 123tiengtrung.com biên soạn, có hỗ trợ AI, đã kiểm duyệt. Cập nhật ngày 16/10/2026.