Thi thử HSK · Chuẩn HSK 3.0 cấp 6

Thi thử HSK6 chuẩn HSK 3.0

Đề HSK6 theo cấu trúc mới của HSK 3.0 (áp dụng từ 07/2026), làm như thi thật: 82 câu trong 125 phút, nghe, đọc, viết. Từ vựng, ngữ pháp và chữ viết đúng phạm vi cấp 6 của HSK 3.0. Audio giọng chuẩn, chấm điểm và xem lại từng câu ngay sau khi nộp.

Đang mở · Cập nhật 23/10/2026

82câu hỏi
125'làm bài
300điểm tối đa
180điểm để đạt

Chấm AI: AI chấm câu viết tự do, phí từ 5.000đ/lượt, mua qua ví. Không chấm AI: câu viết tự do không tính điểm, trong gói Premium.

Ôn trước khi thi: Từ vựng HSK6 (danh sách + PDF) · Cheatsheet ngữ pháp HSK6

Vì sao đề này theo chuẩn HSK 3.0

HSK 3.0 là cách gọi bộ Tiêu chuẩn trình độ tiếng Trung trong giáo dục tiếng Trung quốc tế (GF 0025-2021) do Bộ Giáo dục Trung Quốc ban hành, chia 3 giai đoạn, 9 cấp. Mỗi cấp quy định rõ học viên phải biết những từ nào, điểm ngữ pháp nào, viết tay được những chữ nào và làm được việc gì bằng tiếng Trung. Đề thi thử HSK6 được soạn bám sát phạm vi đó:

  • Từ vựng: chỉ dùng từ trong danh sách từ vựng HSK 3.0 từ cấp 1 đến cấp 6 (khoảng 5.383 từ). Từ của cấp cao hơn bị loại, kể cả khi nó "mượn" chữ của một từ dễ.
  • Ngữ pháp: chỉ dùng điểm ngữ pháp từ cấp 1 đến cấp 6 theo đại cương HSK 3.0.
  • Chủ đề: các tình huống mà đại cương cấp 6 yêu cầu: công việc và công sở, thuê nhà, đi lại, khách sạn và du lịch, mua sắm và thanh toán, sức khoẻ, học tập, đời sống thành phố, phong tục và thói quen.

Về hình thức, đề giữ đúng cấu trúc bài thi HSK6: cùng số phần, cùng dạng câu và thứ tự câu hỏi.

Đề HSK6 chính thứcĐề thi thử trên web
Nghe · 听力4040
Đọc · 阅读4040
Viết · 书写22
Thời gian làm bàikhoảng 125 phút125 phút
Thang điểm300 điểm, đạt 180300 điểm, đạt 180
Số lần nghe mỗi câu1 lần1 lần (luyện từng phần cũng 1 lần, có thể bật Nghe tự do)

Đề HSK6 chuẩn HSK 3.0 (áp dụng từ 07/2026, theo tài liệu cấu trúc đề của 汉考国际 12/2025): 82 câu (Nghe 40, Đọc 40, Viết 2), khoảng 125 phút làm bài (Nghe khoảng 30, Đọc 40, Viết 45), 4 lựa chọn A–D (Đọc 2 chọn câu A–F), không có pinyin. Đề trên web theo đúng cấu trúc HSK6 mới của HSK 3.0: cùng 8 phần, cùng số câu, dạng câu, 4 lựa chọn A–D và thời gian làm bài. Phần Nghe phát liền một mạch 1 lần như phòng thi (có lời đọc yêu cầu từng phần, số câu và thời gian chờ trả lời); luyện từng phần cũng 1 lần (bật Nghe tự do để nghe lại).

Đề được soạn và kiểm tra thế nào

Đề không phải một bộ cố định. Chúng tôi soạn một ngân hàng 320 câu cho HSK6, mỗi phần từ 20 đến 100 câu (phần nhiều câu hỏi tính theo đoạn văn). Mỗi lần bạn bắt đầu là một đề mới, ghép theo đúng khung trên.

1

Nội dung

Mỗi câu viết riêng cho cấp 6, có chữ Hán, pinyin đủ dấu thanh (kể cả biến điệu của 一 và 不) và nghĩa tiếng Việt tự nhiên. Câu hỏi về thông tin có thật trong câu nghe/đọc, mỗi câu chỉ có đúng một đáp án.

2

Soát từng câu theo chuẩn cấp 6

Mỗi câu được soát kỹ trước khi vào ngân hàng đề: chữ và từ nằm trong phạm vi cấp 1–6, không lẫn từ cấp cao, độ dài câu đúng chuẩn, pinyin chính xác, không có câu trùng lặp giữa các phần, số lượng nói trong câu khớp với số vật vẽ trong tranh. Câu chưa đạt đều bị loại.

3

Thẩm định độc lập

Sau vòng soát trên, một người thẩm định riêng đọc lại toàn bộ: tiếng Trung có tự nhiên không, tiếng Việt có đúng nghĩa không, đáp án nhiễu có vô tình cũng đúng không. Sửa đến khi đạt mới dùng.

4

Tranh

Mọi tranh vẽ riêng cho đề, cùng một phong cách, không có chữ, số hay pinyin để tránh lộ đáp án. Những từ cần so sánh như anh – em, cao – thấp, nhiều – ít được vẽ 2–3 người hoặc 2 nhóm vật, có mũi tên đỏ chỉ đúng đối tượng.

5

Audio

Phần Nghe thu âm từng lượt nói bằng giọng chuẩn Bắc Kinh, một giọng nam và một giọng nữ đúng vai trong hội thoại; câu hỏi "问:…" do giọng nữ đọc. Các lượt được nối với khoảng nghỉ như băng đề thật. Đề chỉ mở cho học viên khi đã có đủ audio.

6

Ghép đề công bằng

Ở phần điền từ A–E, 5 câu trong mỗi nhóm được chọn sao cho mỗi từ chỉ điền đúng vào một câu. Ở phần điền câu vào đoạn văn, mỗi câu chỉ hợp với đúng một chỗ trống. Đáp án nhiễu được soát để không vô tình cũng đúng.

Cấu trúc đề và từng dạng câu hỏi

Dưới đây là toàn bộ các phần của đề HSK6 theo đúng thứ tự khi thi. Mỗi phần kèm một câu ví dụ lấy thẳng từ ngân hàng đề: chữ hiển thị (không có pinyin, như đề thật cấp 6), tranh và audio đúng như học viên thấy và nghe trong bài thi. Bấm "Đáp án và lời thoại" để xem lời giải.

听力 Nghe 40 câu · 100 điểm

第一部分

Nghe đoạn tin ngắn, chọn ý khớp nội dung

Câu 1–8 · 8 câu

Nghe một đoạn kiểu bản tin khoảng 100 chữ. Phần này KHÔNG có câu hỏi: chọn 1 trong 4 câu A–D đúng với nội dung đoạn vừa nghe. Đáp án thường là ý khái quát hoặc suy ra một bước, không chép nguyên câu trong bài.

1Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
A这种公交车全天每五分钟一班B这种公交车只在周末运行C居民去坐地铁更方便了D这种公交车主要走大马路
Đáp án, giải thích và lời thoại

Đáp án: C. 居民去坐地铁更方便了 (cư dân đi tàu điện ngầm thuận tiện hơn)

Vì sao: Đoạn tin không có câu hỏi, phải chọn ý khớp nội dung. Bài nói người dân 以前走到地铁站要二十多分钟,现在出行便捷多了: đi tàu điện ngầm thuận tiện hơn, nên chọn C 居民去坐地铁更方便了 (ý khái quát, không chép nguyên câu). A sai vì chỉ giờ cao điểm 上下班高峰期间 mới 5 phút một chuyến, không phải cả ngày; B (chỉ chạy cuối tuần) không được nói; D ngược với bài: xe nhỏ để chạy vào phố cũ mà xe lớn không vào được.

近日,长河市开通了三条社区公交线路。和普通公交车相比,社区公交车体积小,能开进大车开不进去的老街区,把居民从家门口直接送到附近的地铁站。坐一趟只要一元,上下班高峰期间每五分钟一班。不少居民表示,以前走到地铁站要二十多分钟,现在出行便捷多了,早上还能多睡一会儿。Jìnrì, Chánghé Shì kāitōngle sān tiáo shèqū gōngjiāo xiànlù. Hé pǔtōng gōngjiāochē xiāngbǐ, shèqū gōngjiāochē tǐjī xiǎo, néng kāijìn dàchē kāi bu jìnqu de lǎo jiēqū, bǎ jūmín cóng jiā ménkǒu zhíjiē sòngdào fùjìn de dìtiězhàn. Zuò yí tàng zhǐ yào yì yuán, shàng-xiàbān gāofēng qījiān měi wǔ fēnzhōng yì bān. Bùshǎo jūmín biǎoshì, yǐqián zǒudào dìtiězhàn yào èrshí duō fēnzhōng, xiànzài chūxíng biànjié duō le, zǎoshang hái néng duō shuì yíhuìr.Gần đây, thành phố Trường Hà đã mở ba tuyến xe buýt khu dân cư. So với xe buýt thường, xe buýt khu dân cư nhỏ gọn hơn, chạy vào được những khu phố cũ mà xe lớn không vào nổi, đưa cư dân từ tận cửa nhà tới thẳng ga tàu điện ngầm gần đó. Mỗi lượt đi chỉ mất một tệ, giờ cao điểm đi làm và tan làm cứ năm phút có một chuyến. Nhiều cư dân cho biết, trước đây đi bộ ra ga tàu điện ngầm mất hơn hai mươi phút, giờ đi lại thuận tiện hơn nhiều, buổi sáng còn ngủ thêm được một lúc.
第二部分

Nghe bài thuyết minh, trả lời 4 câu hỏi

Câu 9–28 · 20 câu

Nghe một bài nói khoảng 300 chữ (giới thiệu, thuyết minh, kể chuyện), sau đó 4 câu hỏi "问:…" về cùng bài, mỗi câu 4 lựa chọn. Phần có 5 bài, 20 câu. Nên đọc lướt các lựa chọn trước khi băng chạy.

9Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
9问:关于冬眠,可以知道什么?
A只有熊这样的大动物才冬眠B身体的各种活动会变慢C动物的体温反而会慢慢升高D动物会搬到更暖和的地方
10问:说话人举熊的例子,是想说明什么?
A熊在冬天特别危险B熊比别的动物吃得多C秋天的食物最丰富D冬眠前要做好准备
11问:为什么最好不要打扰冬眠中的动物?
A突然醒来会伤害它们B它们醒来后会攻击人C它们会马上离开那里D人在野外容易受伤
12问:根据这段话,下列哪项正确?
A冬眠时动物的呼吸会加快B熊在冬天常出来找食物C冬眠和冬天缺少食物有关D冬眠的动物不怕被吵醒
Đáp án, giải thích và lời thoại

Đáp án: 9: B. 身体的各种活动会变慢 (mọi hoạt động của cơ thể đều chậm lại) · 10: D. 冬眠前要做好准备 (trước khi ngủ đông phải chuẩn bị sẵn sàng) · 11: A. 突然醒来会伤害它们 (tỉnh dậy đột ngột sẽ gây hại cho chúng) · 12: C. 冬眠和冬天缺少食物有关 (ngủ đông có liên quan đến việc mùa đông thiếu thức ăn)

Vì sao: Câu 1: trong lúc ngủ đông 体温会明显下降,心跳和呼吸也变得十分缓慢 → B 身体的各种活动会变慢; C ngược (thân nhiệt giảm chứ không tăng), D sai vì động vật trốn vào chỗ an toàn chứ không chuyển đi nơi ấm. Câu 2: gấu ăn thật nhiều vào mùa thu, tích mỡ để dùng khi ngủ đông → D 冬眠前要做好准备. Câu 3: bị đánh thức đột ngột phải 消耗大量能量…相当危险 → A 突然醒来会伤害它们; bài không nói chúng tấn công người (B). Câu 4: lý do ngủ đông là trời lạnh, thức ăn ít → C 冬眠和冬天缺少食物有关.

冬天一到,有些动物就好像从大自然中消失了。其实,它们并没有离开,而是躲进了一个安全的地方,开始睡一个长长的觉,这就是冬眠。冬眠和平常的睡觉很不一样:在冬眠期间,动物的体温会明显下降,心跳和呼吸也变得十分缓慢,身体消耗的能量只有平时的一小部分,就好像进入了“节能”状态一样。 动物为什么要冬眠呢?主要是因为冬天天气寒冷,食物又少,如果像平时一样到处活动,很难找到足够的东西吃。拿熊来说,一到秋天,它们就会吃得特别多,把吃进去的能量以脂肪的形式储存在身体里。进入冬眠以后,它们几乎不吃也不动,就靠这些脂肪维持生命,等待漫长的冬天过去。 可以说,冬眠是动物适应环境的一种本能。不过需要注意的是,冬眠中的动物如果被突然吵醒,就得消耗大量能量让身体重新暖和起来,这对它们来说相当危险。因此,在野外遇到正在冬眠的动物时,最好不要去打扰它们。Dōngtiān yí dào, yǒuxiē dòngwù jiù hǎoxiàng cóng dàzìrán zhōng xiāoshī le. Qíshí, tāmen bìng méiyǒu líkāi, ér shì duǒ jìnle yí ge ānquán de dìfang, kāishǐ shuì yí ge chángcháng de jiào, zhè jiù shì dōngmián. Dōngmián hé píngcháng de shuìjiào hěn bù yíyàng: zài dōngmián qījiān, dòngwù de tǐwēn huì míngxiǎn xiàjiàng, xīntiào hé hūxī yě biàn de shífēn huǎnmàn, shēntǐ xiāohào de néngliàng zhǐ yǒu píngshí de yì xiǎo bùfen, jiù hǎoxiàng jìnrùle “jiénéng” zhuàngtài yíyàng. Dòngwù wèi shénme yào dōngmián ne? Zhǔyào shì yīnwèi dōngtiān tiānqì hánlěng, shíwù yòu shǎo, rúguǒ xiàng píngshí yíyàng dàochù huódòng, hěn nán zhǎodào zúgòu de dōngxi chī. Ná xióng lái shuō, yí dào qiūtiān, tāmen jiù huì chī de tèbié duō, bǎ chī jìnqu de néngliàng yǐ zhīfáng de xíngshì chǔcún zài shēntǐ li. Jìnrù dōngmián yǐhòu, tāmen jīhū bù chī yě bú dòng, jiù kào zhèxiē zhīfáng wéichí shēngmìng, děngdài màncháng de dōngtiān guòqu. Kěyǐ shuō, dōngmián shì dòngwù shìyìng huánjìng de yì zhǒng běnnéng. Búguò xūyào zhùyì de shì, dōngmián zhōng de dòngwù rúguǒ bèi tūrán chǎoxǐng, jiù děi xiāohào dàliàng néngliàng ràng shēntǐ chóngxīn nuǎnhuo qilai, zhè duì tāmen lái shuō xiāngdāng wēixiǎn. Yīncǐ, zài yěwài yùdào zhèngzài dōngmián de dòngwù shí, zuìhǎo bú yào qù dǎrǎo tāmen.Mùa đông vừa đến, có những loài động vật dường như biến mất khỏi thiên nhiên. Thật ra chúng không hề rời đi, mà trốn vào một nơi an toàn rồi bắt đầu một giấc ngủ thật dài, đó chính là ngủ đông. Ngủ đông khác hẳn giấc ngủ thường ngày: trong thời gian ngủ đông, thân nhiệt của động vật giảm rõ rệt, nhịp tim và hơi thở cũng trở nên rất chậm, năng lượng cơ thể tiêu hao chỉ bằng một phần nhỏ so với bình thường, giống như đã chuyển sang chế độ "tiết kiệm năng lượng". Vì sao động vật phải ngủ đông? Chủ yếu là vì mùa đông trời rét, thức ăn lại ít, nếu vẫn đi lại khắp nơi như bình thường thì rất khó kiếm đủ cái ăn. Lấy loài gấu làm ví dụ, cứ đến mùa thu là chúng ăn rất nhiều, tích trữ năng lượng ăn vào trong cơ thể dưới dạng mỡ. Khi đã vào giấc ngủ đông, chúng gần như không ăn cũng không cử động, chỉ dựa vào chỗ mỡ đó để duy trì sự sống, chờ cho mùa đông dài đằng đẵng trôi qua. Có thể nói, ngủ đông là bản năng giúp động vật thích nghi với môi trường. Nhưng cần lưu ý là động vật đang ngủ đông nếu bị đánh thức đột ngột thì phải tiêu hao rất nhiều năng lượng để làm cơ thể ấm trở lại, điều này khá nguy hiểm với chúng. Vì vậy, khi gặp động vật đang ngủ đông ngoài tự nhiên, tốt nhất đừng làm phiền chúng.
问:关于冬眠,可以知道什么?Wèn: Guānyú dōngmián, kěyǐ zhīdào shénme?Hỏi: Về ngủ đông, có thể biết điều gì?
问:说话人举熊的例子,是想说明什么?Wèn: Shuōhuàrén jǔ xióng de lìzi, shì xiǎng shuōmíng shénme?Hỏi: Người nói đưa ví dụ về loài gấu là muốn nói lên điều gì?
问:为什么最好不要打扰冬眠中的动物?Wèn: Wèi shénme zuìhǎo bú yào dǎrǎo dōngmián zhōng de dòngwù?Hỏi: Vì sao tốt nhất đừng làm phiền động vật đang ngủ đông?
问:根据这段话,下列哪项正确?Wèn: Gēnjù zhè duàn huà, xiàliè nǎ xiàng zhèngquè?Hỏi: Theo đoạn nói, ý nào sau đây đúng?
第三部分

Nghe phỏng vấn, trả lời 4 câu hỏi

Câu 29–40 · 12 câu

Nghe một cuộc phỏng vấn khoảng 8 lượt hỏi – đáp giữa người dẫn và khách mời, rồi 4 câu hỏi; luôn có 1 câu hỏi quan điểm của khách mời ("下列哪项属于…的观点?"). Phần có 3 cuộc phỏng vấn, 12 câu.

29Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
29问:男的为什么愿意接收不太会运动的孩子?
A社区要求球队这样招人B这些孩子更需要运动的机会C想把他们培养成运动员D球队的名额一直招不满
30问:关于球队的训练,下列哪项正确?
A踢得好的孩子单独训练B新队员要先练好传球C刚入门的孩子只能在场外看D每个小组都是强弱搭配
31问:男的是怎么让家长改变看法的?
A让最强的孩子多踢一会儿B请家长到现场看比赛C给家长讲了很多道理D换掉了几个水平低的队员
32问:下列哪项属于男的的观点?
A孩子爱上运动比输赢重要B孩子从小就应该学会争第一C输了球以后应该批评孩子D少儿比赛不应该计算比分
Đáp án, giải thích và lời thoại

Đáp án: 29: B. 这些孩子更需要运动的机会 (những đứa trẻ này càng cần cơ hội vận động) · 30: D. 每个小组都是强弱搭配 (nhóm nào cũng ghép người giỏi với người yếu) · 31: B. 请家长到现场看比赛 (mời phụ huynh đến tận nơi xem trận đấu) · 32: A. 孩子爱上运动比输赢重要 (trẻ yêu vận động thì quan trọng hơn thắng thua)

Vì sao: Câu 1: anh nói 越是平时不爱运动的孩子,越需要这样的机会 → B. Anh nói rõ không nhằm đào tạo vận động viên nên C sai. Câu 2: 每组里有踢得好的,也有刚入门的 → D 每个小组都是强弱搭配. Câu 3: anh 没有多解释,只是请他们来看了一场比赛 → B 请家长到现场看比赛; C (giảng nhiều đạo lý) ngược với lời anh. Câu 4 (câu quan điểm của người nam): 对这个年纪的孩子来说,更重要的是让他们爱上运动 → A 孩子爱上运动比输赢重要. D sai: anh không nói bỏ tính điểm, chỉ nói 比分只是一时的.

女:您在社区带少儿足球队已经好几年了。听说您招队员从来不挑,连不太会运动的孩子也收,这是为什么?Nín zài shèqū dài shào'ér zúqiúduì yǐjīng hǎo jǐ nián le. Tīngshuō nín zhāo duìyuán cónglái bù tiāo, lián bú tài huì yùndòng de háizi yě shōu, zhè shì wèi shénme?Anh dẫn đội bóng đá thiếu nhi của khu dân cư đã mấy năm rồi. Nghe nói anh tuyển cầu thủ chưa bao giờ kén chọn, đến cả những bạn nhỏ không giỏi thể thao lắm cũng nhận, vì sao vậy?
男:社区的球队跟专业队不一样,我们不是为了培养运动员,而是想让孩子们多一个出门跑一跑、交朋友的机会。越是平时不爱运动的孩子,越需要这样的机会。要是我只招跑得快、踢得好的,那些本来就缺乏自信的孩子,可能会受到打击,以后再也不敢碰足球了。Shèqū de qiúduì gēn zhuānyèduì bù yíyàng, wǒmen bú shì wèile péiyǎng yùndòngyuán, ér shì xiǎng ràng háizimen duō yí ge chūmén pǎo yi pǎo, jiāo péngyou de jīhuì. Yuè shì píngshí bú ài yùndòng de háizi, yuè xūyào zhèyàng de jīhuì. Yàoshi wǒ zhǐ zhāo pǎo de kuài, tī de hǎo de, nàxiē běnlái jiù quēfá zìxìn de háizi, kěnéng huì shòudào dǎjī, yǐhòu zài yě bù gǎn pèng zúqiú le.Đội bóng khu dân cư khác đội chuyên nghiệp, chúng tôi không nhằm đào tạo vận động viên, mà muốn cho các cháu thêm một dịp ra khỏi nhà chạy nhảy, kết bạn. Đứa nào ngày thường càng lười vận động thì càng cần những dịp như vậy. Nếu tôi chỉ tuyển những đứa chạy nhanh, đá giỏi, thì những đứa vốn đã thiếu tự tin có thể sẽ bị nhụt chí, từ đó không dám đụng đến quả bóng nữa.
女:队员水平差别这么大,训练的时候您怎么安排呢?Duìyuán shuǐpíng chābié zhème dà, xùnliàn de shíhou nín zěnme ānpái ne?Trình độ các cầu thủ chênh lệch lớn như vậy, lúc tập luyện anh sắp xếp thế nào?
男:我一般把孩子分为几个小组,每组里有踢得好的,也有刚入门的。我给踢得好的孩子一个任务:比赛时,必须把球传给组里的每一个人。起初他们不太愿意,觉得这样会输球。可练了一段时间以后,他们发现,传球多了,大家的配合反而更好了,整个组也更团结了。那些刚入门的孩子,因为接到了球,也慢慢敢参加比赛了。Wǒ yìbān bǎ háizi fēnwéi jǐ ge xiǎozǔ, měi zǔ li yǒu tī de hǎo de, yě yǒu gāng rùmén de. Wǒ gěi tī de hǎo de háizi yí ge rènwu: bǐsài shí, bìxū bǎ qiú chuán gěi zǔ li de měi yí ge rén. Qǐchū tāmen bú tài yuànyì, juéde zhèyàng huì shū qiú. Kě liànle yí duàn shíjiān yǐhòu, tāmen fāxiàn, chuán qiú duō le, dàjiā de pèihé fǎn'ér gèng hǎo le, zhěnggè zǔ yě gèng tuánjié le. Nàxiē gāng rùmén de háizi, yīnwèi jiēdàole qiú, yě mànmàn gǎn cānjiā bǐsài le.Tôi thường chia các cháu thành mấy nhóm nhỏ, nhóm nào cũng có đứa đá giỏi, cũng có đứa mới tập. Tôi giao cho những đứa đá giỏi một nhiệm vụ: khi thi đấu, bắt buộc phải chuyền bóng cho từng người trong nhóm. Lúc đầu chúng không muốn lắm, cho rằng làm vậy sẽ thua. Nhưng tập một thời gian thì chúng nhận ra, chuyền bóng nhiều hơn thì mọi người lại phối hợp tốt hơn, cả nhóm cũng đoàn kết hơn. Còn những đứa mới tập, nhờ được nhận bóng, cũng dần dần dám ra thi đấu.
女:你们参加比赛,成绩怎么样?家长们会不会有意见?Nǐmen cānjiā bǐsài, chéngjì zěnmeyàng? Jiāzhǎngmen huì bu huì yǒu yìjiàn?Đội tham gia thi đấu thì thành tích thế nào? Phụ huynh có phàn nàn gì không?
男:说实话,我们输的比赢的多,这也难免。一开始确实有家长着急,质疑我为什么不让最强的几个孩子一直留在场上。我没有多解释,只是请他们来看了一场比赛。那天,一个平时很少说话的男孩儿第一次进了球,全队都冲过去抱住了他。比赛结束后,一位原来最着急的家长对我说:“输就输吧,孩子们开心最重要。”Shuō shíhuà, wǒmen shū de bǐ yíng de duō, zhè yě nánmiǎn. Yì kāishǐ quèshí yǒu jiāzhǎng zháojí, zhìyí wǒ wèi shénme bú ràng zuì qiáng de jǐ ge háizi yìzhí liú zài chǎng shang. Wǒ méiyǒu duō jiěshì, zhǐshì qǐng tāmen lái kànle yì chǎng bǐsài. Nà tiān, yí ge píngshí hěn shǎo shuōhuà de nánháir dì-yī cì jìnle qiú, quán duì dōu chōng guòqu bàozhùle tā. Bǐsài jiéshù hòu, yí wèi yuánlái zuì zháojí de jiāzhǎng duì wǒ shuō: “Shū jiù shū ba, háizimen kāixīn zuì zhòngyào.”Nói thật, chúng tôi thua nhiều hơn thắng, chuyện đó cũng khó tránh. Lúc đầu đúng là có phụ huynh sốt ruột, chất vấn tôi sao không để mấy đứa giỏi nhất ở lại trên sân suốt trận. Tôi không giải thích nhiều, chỉ mời họ đến xem một trận đấu. Hôm đó, một cậu bé ngày thường rất ít nói lần đầu tiên ghi bàn, cả đội đều lao tới ôm chầm lấy cậu. Trận đấu kết thúc, một vị phụ huynh lúc trước sốt ruột nhất nói với tôi: "Thua thì thua thôi, các cháu vui là quan trọng nhất."
女:很多人认为,体育比赛就是要争第一。您怎么看?Hěn duō rén rènwéi, tǐyù bǐsài jiù shì yào zhēng dì-yī. Nín zěnme kàn?Nhiều người cho rằng thi đấu thể thao là phải giành vị trí số một. Anh nghĩ sao?
男:想赢当然没错,可对这个年纪的孩子来说,更重要的是让他们爱上运动。一个孩子如果十岁时就因为输球被骂,很可能从此再也不愿意运动了;相反,要是他在球场上感受到了快乐,这份热爱可能会陪他一辈子。所以我常跟孩子们说,比分只是一时的,喜欢踢球才是长久的。Xiǎng yíng dāngrán méi cuò, kě duì zhège niánjì de háizi lái shuō, gèng zhòngyào de shì ràng tāmen àishang yùndòng. Yí ge háizi rúguǒ shí suì shí jiù yīnwèi shū qiú bèi mà, hěn kěnéng cóngcǐ zài yě bú yuànyì yùndòng le; xiāngfǎn, yàoshi tā zài qiúchǎng shang gǎnshòu dàole kuàilè, zhè fèn rè'ài kěnéng huì péi tā yíbèizi. Suǒyǐ wǒ cháng gēn háizimen shuō, bǐfēn zhǐ shì yìshí de, xǐhuan tī qiú cái shì chángjiǔ de.Muốn thắng thì tất nhiên không sai, nhưng với trẻ ở tuổi này, quan trọng hơn là làm cho các cháu yêu vận động. Một đứa trẻ nếu mới mười tuổi đã bị mắng vì thua trận thì rất có thể từ đó không muốn vận động nữa; ngược lại, nếu nó cảm nhận được niềm vui trên sân bóng, tình yêu ấy có thể theo nó cả đời. Vì vậy tôi hay nói với các cháu: tỉ số chỉ là nhất thời, thích đá bóng mới là lâu dài.
问:男的为什么愿意接收不太会运动的孩子?Wèn: Nán de wèi shénme yuànyì jiēshōu bú tài huì yùndòng de háizi?Hỏi: Vì sao người nam sẵn lòng nhận những đứa trẻ không giỏi thể thao lắm?
问:关于球队的训练,下列哪项正确?Wèn: Guānyú qiúduì de xùnliàn, xiàliè nǎ xiàng zhèngquè?Hỏi: Về việc tập luyện của đội bóng, ý nào sau đây đúng?
问:男的是怎么让家长改变看法的?Wèn: Nán de shì zěnme ràng jiāzhǎng gǎibiàn kànfǎ de?Hỏi: Người nam làm thế nào để phụ huynh thay đổi cách nhìn?
问:下列哪项属于男的的观点?Wèn: Xiàliè nǎ xiàng shǔyú nán de de guāndiǎn?Hỏi: Ý nào sau đây là quan điểm của người nam?

阅读 Đọc 40 câu · 100 điểm

第一部分

Chọn từ điền vào đoạn văn 5 chỗ trống

Câu 41–50 · 10 câu

Đọc một đoạn văn có 5 chỗ trống, mỗi chỗ chọn 1 trong 4 từ A–D. Các từ thường gần nghĩa nhau (ví dụ 结实 / 坚固 / 踏实), phải đọc cả câu trước và sau để chọn đúng sắc thái và cách kết hợp. Phần có 2 đoạn, 10 câu.

41Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
龙海在城东的一条老街上修了三十多年自行车。他的修车铺不大,各种工具却总是摆放得整整齐齐。附近的居民都说,车交给龙海修,心里(41)。
有一回,一个小伙子推着车来,说车骑起来特别累,想(42)换辆新的。龙海仔细检查了一遍,发现只是刹车跟轮子贴得太紧了。他调了几下,又给车加了点儿油,没过一会儿,车就骑得轻松了。小伙子原以为要花不少钱,(43)龙海只收了五元。
有人替龙海算过:要是劝顾客换新车,他能多赚好几倍。龙海听了只是笑笑:“能修好的东西,为什么要让人白白多花钱呢?”时间长了,龙海在这一带越来越有(44)。有些老顾客早就搬到了城西,车一有毛病,还(45)骑过来找他。
41
A结实B朴素C踏实D坚固
42
A干脆B未必C仿佛D偶尔
43
A果然B于是C假如D不料
44
A力气B名气C勇气D脾气
45
A特意B随意C毕竟D几乎
Đáp án, giải thích và lời giải

Đáp án: 41: C. 踏实 (yên tâm, vững dạ) · 42: A. 干脆 (dứt khoát, … luôn cho xong) · 43: D. 不料 (không ngờ) · 44: B. 名气 (tiếng tăm) · 45: A. 特意 (cất công, cố ý)

Vì sao: Chỗ 1: 心里踏实 = trong lòng yên tâm; 结实, 坚固 nói đồ vật chắc chắn, 朴素 là giản dị, không đi với 心里. Chỗ 2: 想干脆换辆新的 = muốn đổi luôn xe mới cho xong; 未必, 仿佛, 偶尔 không hợp ý "muốn làm dứt khoát". Chỗ 3: cậu tưởng tốn nhiều tiền, không ngờ chỉ mất năm tệ → 不料; 果然 (quả nhiên) ngược ý. Chỗ 4: 越来越有名气 = ngày càng có tiếng. Chỗ 5: chuyển sang phía tây rồi vẫn 特意 (cất công) đạp sang tìm bác.

龙海在城东的一条老街上修了三十多年自行车。他的修车铺不大,各种工具却总是摆放得整整齐齐。附近的居民都说,车交给龙海修,心里踏实。 有一回,一个小伙子推着车来,说车骑起来特别累,想干脆换辆新的。龙海仔细检查了一遍,发现只是刹车跟轮子贴得太紧了。他调了几下,又给车加了点儿油,没过一会儿,车就骑得轻松了。小伙子原以为要花不少钱,不料龙海只收了五元。 有人替龙海算过:要是劝顾客换新车,他能多赚好几倍。龙海听了只是笑笑:“能修好的东西,为什么要让人白白多花钱呢?”时间长了,龙海在这一带越来越有名气。有些老顾客早就搬到了城西,车一有毛病,还特意骑过来找他。Lóng Hǎi zài chéng dōng de yì tiáo lǎo jiē shang xiūle sānshí duō nián zìxíngchē. Tā de xiūchēpù bú dà, gè zhǒng gōngjù què zǒngshì bǎifàng de zhěngzhěngqíqí. Fùjìn de jūmín dōu shuō, chē jiāo gěi Lóng Hǎi xiū, xīnli tāshi. Yǒu yì huí, yí ge xiǎohuǒzi tuīzhe chē lái, shuō chē qí qilai tèbié lèi, xiǎng gāncuì huàn liàng xīn de. Lóng Hǎi zǐxì jiǎnchále yí biàn, fāxiàn zhǐshì shāchē gēn lúnzi tiē de tài jǐn le. Tā tiáole jǐ xià, yòu gěi chē jiāle diǎnr yóu, méi guò yíhuìr, chē jiù qí de qīngsōng le. Xiǎohuǒzi yuán yǐwéi yào huā bù shǎo qián, búliào Lóng Hǎi zhǐ shōule wǔ yuán. Yǒu rén tì Lóng Hǎi suànguo: yàoshi quàn gùkè huàn xīn chē, tā néng duō zhuàn hǎo jǐ bèi. Lóng Hǎi tīngle zhǐshì xiàoxiao: “Néng xiūhǎo de dōngxi, wèi shénme yào ràng rén báibái duō huā qián ne?” Shíjiān cháng le, Lóng Hǎi zài zhè yídài yuè lái yuè yǒu míngqi. Yǒuxiē lǎo gùkè zǎo jiù bāndàole chéng xī, chē yì yǒu máobing, hái tèyì qí guolai zhǎo tā.Long Hải sửa xe đạp trên một con phố cũ ở phía đông thành phố đã hơn ba mươi năm. Tiệm sửa xe của bác không lớn, nhưng đồ nghề lúc nào cũng bày biện ngăn nắp. Người dân quanh đó đều nói, giao xe cho bác Long sửa thì thấy yên tâm. Có lần, một cậu thanh niên dắt xe tới, kêu xe đạp nặng, đạp mệt lắm, muốn đổi luôn một chiếc mới cho xong. Bác Long kiểm tra kỹ một lượt, phát hiện chỉ là phanh áp quá sát vào bánh xe. Bác chỉnh vài cái, tra thêm chút dầu, chẳng mấy chốc, xe đã đạp nhẹ hẳn. Cậu thanh niên vốn tưởng phải tốn khá nhiều tiền, không ngờ bác Long chỉ lấy năm tệ. Có người tính hộ bác: nếu khuyên khách đổi xe mới, bác kiếm được gấp mấy lần. Bác Long nghe vậy chỉ cười: "Đồ còn sửa được thì sao lại bắt người ta tốn thêm tiền oan?" Lâu dần, bác Long ngày càng có tiếng ở khu này. Có những khách quen đã chuyển sang phía tây thành phố từ lâu, vậy mà xe hễ trục trặc vẫn cất công đạp sang tìm bác.
第二部分

Chọn câu điền vào đoạn văn (có 1 câu thừa)

Câu 51–60 · 10 câu

Đọc một đoạn văn có 5 chỗ trống và 6 câu A–F; mỗi chỗ điền 1 câu, có 1 câu thừa không dùng. Dựa vào từ nối, đại từ và mạch ý trước – sau chỗ trống. Phần có 2 đoạn, 10 câu.

51Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
A只拿不还的人多了,种子很快会被拿光B看着桌子上越堆越多的种子C周末常有人围在柜子前交流种菜经验D不少人放回来的种子比拿走的还多E邻居们觉得还是去店里买种子更放心F一家人怎么吃也吃不完
梁晨住的小区里,一楼大厅的角落摆着一个旧柜子。柜子里整整齐齐地放着几十个小袋子,每个袋子上都写着种子的名字、适合种植的季节,还有送种子的人住在几号楼。 梁晨平时喜欢在阳台上种菜。前年夏天,她种的辣椒结得特别多,(51)。她舍不得浪费,便把辣椒里的种子留了下来,装进小袋子,送给了几位同样爱种菜的邻居。 没想到第二年春天,邻居们也拿着自家的种子来找她:有番茄的,有黄瓜的,还有一位老人特地送来了从老家带来的西瓜种子。(52),梁晨把家里一个不用的旧柜子搬到了楼下,定了一条简单的规矩:想种什么就拿一包,等收获了,再留一些种子放回来。 起初,也有邻居担心,(53)。可事实上,柜子里的种子不但没有变少,反而越来越多了。原来,(54)。 如今,这个旧柜子成了小区里最热闹的地方,(55)。一位在这里住了十几年的老人笑着说,以往连对门姓什么都不知道,现在连对门家的番茄哪天熟了都清楚。
Đáp án, giải thích và lời giải

Đáp án: 51: F. 一家人怎么吃也吃不完 · 52: B. 看着桌子上越堆越多的种子 · 53: A. 只拿不还的人多了,种子很快会被拿光 · 54: D. 不少人放回来的种子比拿走的还多 · 55: C. 周末常有人围在柜子前交流种菜经验

Vì sao: Chỗ 1: ớt sai quả → 一家人怎么吃也吃不完, nối với câu sau 她舍不得浪费. Chỗ 2: hàng xóm mang đến đủ loại hạt → 看着桌子上越堆越多的种子 rồi mới mang tủ xuống. Chỗ 3: sau 担心 là nội dung lo lắng → 只拿不还的人多了,种子很快会被拿光, câu sau 可事实上 phủ định nỗi lo ấy. Chỗ 4: 原来 giải thích vì sao hạt ngày càng nhiều → 不少人放回来的种子比拿走的还多. Chỗ 5: tủ thành chỗ nhộn nhịp nhất → cuối tuần người đứng quanh trao đổi kinh nghiệm. Câu thừa: 邻居们觉得还是去店里买种子更放心 (ngược mạch chuyện).

梁晨住的小区里,一楼大厅的角落摆着一个旧柜子。柜子里整整齐齐地放着几十个小袋子,每个袋子上都写着种子的名字、适合种植的季节,还有送种子的人住在几号楼。 梁晨平时喜欢在阳台上种菜。前年夏天,她种的辣椒结得特别多,一家人怎么吃也吃不完。她舍不得浪费,便把辣椒里的种子留了下来,装进小袋子,送给了几位同样爱种菜的邻居。 没想到第二年春天,邻居们也拿着自家的种子来找她:有番茄的,有黄瓜的,还有一位老人特地送来了从老家带来的西瓜种子。看着桌子上越堆越多的种子,梁晨把家里一个不用的旧柜子搬到了楼下,定了一条简单的规矩:想种什么就拿一包,等收获了,再留一些种子放回来。 起初,也有邻居担心,只拿不还的人多了,种子很快会被拿光。可事实上,柜子里的种子不但没有变少,反而越来越多了。原来,不少人放回来的种子比拿走的还多。 如今,这个旧柜子成了小区里最热闹的地方,周末常有人围在柜子前交流种菜经验。一位在这里住了十几年的老人笑着说,以往连对门姓什么都不知道,现在连对门家的番茄哪天熟了都清楚。Liáng Chén zhù de xiǎoqū li, yī lóu dàtīng de jiǎoluò bǎizhe yí ge jiù guìzi. Guìzi li zhěngzhěngqíqí de fàngzhe jǐshí ge xiǎo dàizi, měi ge dàizi shang dōu xiězhe zhǒngzi de míngzi, shìhé zhòngzhí de jìjié, hái yǒu sòng zhǒngzi de rén zhù zài jǐ hào lóu. Liáng Chén píngshí xǐhuan zài yángtái shang zhòng cài. Qiánnián xiàtiān, tā zhòng de làjiāo jiē de tèbié duō, yì jiā rén zěnme chī yě chī bu wán. Tā shěbude làngfèi, biàn bǎ làjiāo li de zhǒngzi liúle xialai, zhuāngjìn xiǎo dàizi, sòng gěile jǐ wèi tóngyàng ài zhòng cài de línjū. Méi xiǎngdào dì-èr nián chūntiān, línjūmen yě názhe zìjiā de zhǒngzi lái zhǎo tā: yǒu fānqié de, yǒu huángguā de, hái yǒu yí wèi lǎorén tèdì sòngláile cóng lǎojiā dàilai de xīguā zhǒngzi. Kànzhe zhuōzi shang yuè duī yuè duō de zhǒngzi, Liáng Chén bǎ jiā li yí ge bú yòng de jiù guìzi bāndàole lóu xià, dìngle yì tiáo jiǎndān de guīju: xiǎng zhòng shénme jiù ná yì bāo, děng shōuhuò le, zài liú yìxiē zhǒngzi fàng huilai. Qǐchū, yě yǒu línjū dānxīn, zhǐ ná bù huán de rén duō le, zhǒngzi hěn kuài huì bèi náguāng. Kě shìshí shang, guìzi li de zhǒngzi búdàn méiyǒu biàn shǎo, fǎn'ér yuè lái yuè duō le. Yuánlái, bù shǎo rén fàng huilai de zhǒngzi bǐ názǒu de hái duō. Rújīn, zhège jiù guìzi chéngle xiǎoqū li zuì rènao de dìfang, zhōumò cháng yǒu rén wéi zài guìzi qián jiāoliú zhòng cài jīngyàn. Yí wèi zài zhèlǐ zhùle shí jǐ nián de lǎorén xiàozhe shuō, yǐwǎng lián duìmén xìng shénme dōu bù zhīdào, xiànzài lián duìmén jiā de fānqié nǎ tiān shúle dōu qīngchu.Ở khu chung cư nơi Lương Thần sống, trong góc sảnh tầng một có một chiếc tủ cũ. Trong tủ xếp ngay ngắn mấy chục túi nhỏ, trên mỗi túi đều ghi tên hạt giống, mùa thích hợp để trồng, và cả người tặng hạt sống ở toà nhà số mấy. Lương Thần vốn thích trồng rau ngoài ban công. Mùa hè năm kia, ớt chị trồng sai quả lạ thường, cả nhà ăn mãi cũng không hết. Tiếc của, chị giữ lại hạt trong những quả ớt ấy, cho vào túi nhỏ, đem tặng mấy người hàng xóm cũng mê trồng rau như mình. Không ngờ sang xuân năm sau, hàng xóm cũng mang hạt giống nhà mình đến tìm chị: người thì hạt cà chua, người thì hạt dưa chuột, lại có một cụ cất công mang tới hạt dưa hấu đem từ quê lên. Nhìn hạt giống trên bàn mỗi lúc một nhiều, Lương Thần khuân chiếc tủ cũ không dùng đến trong nhà xuống tầng dưới, đặt ra một quy định đơn giản: ai muốn trồng gì thì lấy một gói, đến khi thu hoạch thì để lại ít hạt, đem trả vào tủ. Lúc đầu, cũng có hàng xóm lo rằng nếu nhiều người chỉ lấy không trả, hạt giống chẳng mấy chốc sẽ bị lấy hết. Nhưng thực tế, hạt giống trong tủ không những không vơi đi mà còn ngày càng nhiều. Hoá ra, không ít người mang trả lại còn nhiều hạt hơn số đã lấy. Giờ đây, chiếc tủ cũ ấy đã thành chỗ nhộn nhịp nhất khu, cuối tuần thường có người đứng quanh tủ trao đổi kinh nghiệm trồng rau. Một cụ đã sống ở đây hơn chục năm cười bảo, trước kia đến nhà đối diện họ gì cũng không biết, giờ thì cà chua nhà đối diện hôm nào chín cũng rõ.
第三部分

Đọc bài khoảng 600 chữ, trả lời 4 câu hỏi

Câu 61–80 · 20 câu

Đọc một bài dài khoảng 600 chữ và trả lời 4 câu hỏi: chi tiết, thái độ, ý chính, và câu bỏ lửng chọn ý hoàn thành (kết thúc bằng ":"). Phần có 5 bài, 20 câu.

61Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
青石村背后的山上有一片很大的树林,几年前被划成了自然保护区,洪帆就是那时来到这里工作的。起初,最让他头疼的是村民随意进山:有人上山砍树,拿回家烧火做饭;有人带着狗在树林里一转就是一整天,把鸟吓得到处乱飞。洪帆在每个路口都立了牌子,写着“保护区内禁止砍树”,可效果并不明显。不少村民想不通:“我们一辈子都靠这座山过日子,怎么现在连碰都不能碰了?” 后来,洪帆换了一个思路。他在树林里装了二十多个摄像头,只要有动物经过,摄像头就会自动拍下来。每隔半个月,他就进山把照片取回来,挑出最清楚的几张,贴在村口的公告栏里,旁边再写上几句简单的介绍。 照片一贴出来,前来看的人就没断过。大家这才发现,原来自家后山里住着这么多“邻居”:有半夜出来找吃的野猪,有抱着孩子在树上休息的猴子妈妈,还有一种连村里年纪最大的老人都叫不出名字的鸟。孩子们放学后总要跑来看看有没有新照片,有的还给照片里的野生动物一一起了名字,谁要是叫错了,马上就有人纠正。 慢慢地,村民的态度发生了变化。有人主动告诉洪帆,哪片树林里常有动物出现,哪条小路上发现了新的脚印;有位老人把自家的狗关在了院子里,说是怕吓着山里的“客人”。去年冬天,几个年轻人上山时发现了外地人偷偷挂的捕鸟网,立刻打电话通知了洪帆,还帮着把网拆了下来。 说起这些变化,洪帆说,以前他以为保护树林靠的是规定,现在才明白,人们只会用心保护自己真正在乎的东西。“牌子只能告诉大家什么不能做,照片却让大家知道了为什么。”
61洪帆在路口立了牌子以后:
A进山的村民少了很多B情况没有多大改善C进山的人反而更多了D村民都愿意帮忙保护树林
62洪帆是怎样利用那些照片的?
A交给城里的专家研究B放到网上请大家评选C只拿给学校的孩子看D选些贴在村口给人看
63根据上文,下列哪项正确?
A有村民帮忙拆掉了捕鸟网B摄像头只在白天拍照C照片都是村民自己拍的D老人认得照片里所有的鸟
64洪帆最后那句话的意思是:
A牌子上的字写得太小了B照片比牌子更能吸引孩子C明白原因比只禁止更有效D以后再也不需要规定了
Đáp án, giải thích và lời giải

Đáp án: 61: B. 情况没有多大改善 (tình hình không cải thiện được bao nhiêu) · 62: D. 选些贴在村口给人看 (chọn một số tấm dán ở đầu làng cho mọi người xem) · 63: A. 有村民帮忙拆掉了捕鸟网 (có người trong làng giúp gỡ bỏ lưới bẫy chim) · 64: C. 明白原因比只禁止更有效 (hiểu được lý do thì hiệu quả hơn là chỉ cấm đoán)

Vì sao: Câu 1 (câu bỏ lửng): dựng biển rồi nhưng 效果并不明显 → B 情况没有多大改善. Câu 2: ảnh được 贴在村口的公告栏里 → D; không có chuyện gửi chuyên gia hay đăng mạng. Câu 3: mấy thanh niên phát hiện lưới bẫy chim, 帮着把网拆了下来 → A. Ảnh do camera chụp chứ không phải dân làng chụp (C sai); có loài chim mà cụ già nhất làng cũng không gọi được tên (D sai). Câu 4: 牌子只能告诉大家什么不能做,照片却让大家知道了为什么 → C 明白原因比只禁止更有效.

青石村背后的山上有一片很大的树林,几年前被划成了自然保护区,洪帆就是那时来到这里工作的。起初,最让他头疼的是村民随意进山:有人上山砍树,拿回家烧火做饭;有人带着狗在树林里一转就是一整天,把鸟吓得到处乱飞。洪帆在每个路口都立了牌子,写着“保护区内禁止砍树”,可效果并不明显。不少村民想不通:“我们一辈子都靠这座山过日子,怎么现在连碰都不能碰了?” 后来,洪帆换了一个思路。他在树林里装了二十多个摄像头,只要有动物经过,摄像头就会自动拍下来。每隔半个月,他就进山把照片取回来,挑出最清楚的几张,贴在村口的公告栏里,旁边再写上几句简单的介绍。 照片一贴出来,前来看的人就没断过。大家这才发现,原来自家后山里住着这么多“邻居”:有半夜出来找吃的野猪,有抱着孩子在树上休息的猴子妈妈,还有一种连村里年纪最大的老人都叫不出名字的鸟。孩子们放学后总要跑来看看有没有新照片,有的还给照片里的野生动物一一起了名字,谁要是叫错了,马上就有人纠正。 慢慢地,村民的态度发生了变化。有人主动告诉洪帆,哪片树林里常有动物出现,哪条小路上发现了新的脚印;有位老人把自家的狗关在了院子里,说是怕吓着山里的“客人”。去年冬天,几个年轻人上山时发现了外地人偷偷挂的捕鸟网,立刻打电话通知了洪帆,还帮着把网拆了下来。 说起这些变化,洪帆说,以前他以为保护树林靠的是规定,现在才明白,人们只会用心保护自己真正在乎的东西。“牌子只能告诉大家什么不能做,照片却让大家知道了为什么。”Qīngshí Cūn bèihòu de shān shang yǒu yí piàn hěn dà de shùlín, jǐ nián qián bèi huàchéng le zìrán bǎohùqū, Hóng Fān jiù shì nà shí láidào zhèlǐ gōngzuò de. Qǐchū, zuì ràng tā tóuténg de shì cūnmín suíyì jìn shān: yǒu rén shàng shān kǎn shù, ná huí jiā shāo huǒ zuò fàn; yǒu rén dài zhe gǒu zài shùlín li yí zhuàn jiù shì yì zhěng tiān, bǎ niǎo xià de dàochù luàn fēi. Hóng Fān zài měi ge lùkǒu dōu lì le páizi, xiě zhe "Bǎohùqū nèi jìnzhǐ kǎn shù", kě xiàoguǒ bìng bù míngxiǎn. Bù shǎo cūnmín xiǎng bu tōng: "Wǒmen yíbèizi dōu kào zhè zuò shān guò rìzi, zěnme xiànzài lián pèng dōu bù néng pèng le?" Hòulái, Hóng Fān huàn le yí ge sīlù. Tā zài shùlín li zhuāng le èrshí duō ge shèxiàngtóu, zhǐyào yǒu dòngwù jīngguò, shèxiàngtóu jiù huì zìdòng pāi xiàlai. Měi gé bàn ge yuè, tā jiù jìn shān bǎ zhàopiàn qǔ huílai, tiāo chū zuì qīngchu de jǐ zhāng, tiē zài cūnkǒu de gōnggàolán li, pángbiān zài xiě shang jǐ jù jiǎndān de jièshào. Zhàopiàn yì tiē chūlai, qiánlái kàn de rén jiù méi duàn guo. Dàjiā zhè cái fāxiàn, yuánlái zìjiā hòushān li zhù zhe zhème duō "línjū": yǒu bànyè chūlai zhǎo chī de yězhū, yǒu bào zhe háizi zài shù shang xiūxi de hóuzi māma, hái yǒu yì zhǒng lián cūn li niánjì zuì dà de lǎorén dōu jiào bu chū míngzi de niǎo. Háizimen fàngxué hòu zǒng yào pǎo lái kànkan yǒu méiyǒu xīn zhàopiàn, yǒude hái gěi zhàopiàn li de yěshēng dòngwù yīyī qǐ le míngzi, shéi yàoshi jiào cuò le, mǎshàng jiù yǒu rén jiūzhèng. Mànmàn de, cūnmín de tàidu fāshēng le biànhuà. Yǒu rén zhǔdòng gàosu Hóng Fān, nǎ piàn shùlín li cháng yǒu dòngwù chūxiàn, nǎ tiáo xiǎolù shang fāxiàn le xīn de jiǎoyìn; yǒu wèi lǎorén bǎ zìjiā de gǒu guān zài le yuànzi li, shuō shì pà xiàzháo shān li de "kèrén". Qùnián dōngtiān, jǐ ge niánqīngrén shàng shān shí fāxiàn le wàidìrén tōutōu guà de bǔniǎowǎng, lìkè dǎ diànhuà tōngzhī le Hóng Fān, hái bāng zhe bǎ wǎng chāi le xiàlai. Shuō qǐ zhèxiē biànhuà, Hóng Fān shuō, yǐqián tā yǐwéi bǎohù shùlín kào de shì guīdìng, xiànzài cái míngbai, rénmen zhǐ huì yòngxīn bǎohù zìjǐ zhēnzhèng zàihu de dōngxi. "Páizi zhǐ néng gàosu dàjiā shénme bù néng zuò, zhàopiàn què ràng dàjiā zhīdào le wèi shénme."Trên ngọn núi phía sau làng Thanh Thạch có một cánh rừng rất rộng, mấy năm trước được khoanh thành khu bảo tồn thiên nhiên, Hồng Phàm đến đây làm việc đúng vào lúc ấy. Lúc đầu, điều khiến anh đau đầu nhất là dân làng tuỳ tiện vào núi: có người lên núi chặt cây mang về nhà đun bếp nấu cơm; có người dắt chó lang thang trong rừng cả ngày trời, làm chim chóc sợ hãi bay tán loạn. Hồng Phàm dựng biển ở mọi ngả đường, ghi "Cấm chặt cây trong khu bảo tồn", nhưng hiệu quả chẳng rõ rệt. Nhiều người trong làng nghĩ mãi không thông: "Cả đời chúng tôi sống nhờ ngọn núi này, sao giờ đến động vào cũng không được?" Về sau, Hồng Phàm đổi cách nghĩ. Anh lắp hơn hai mươi camera trong rừng, hễ có động vật đi qua là camera tự động chụp lại. Cứ nửa tháng một lần, anh vào núi lấy ảnh về, chọn ra mấy tấm rõ nhất, dán lên bảng tin ở đầu làng, bên cạnh viết thêm vài câu giới thiệu đơn giản. Ảnh vừa dán lên, người kéo đến xem không lúc nào ngớt. Lúc này mọi người mới phát hiện, hoá ra núi sau nhà mình có nhiều "hàng xóm" đến thế: có lợn rừng nửa đêm ra kiếm ăn, có khỉ mẹ ôm con nghỉ trên cây, lại có một loài chim mà ngay cả cụ già cao tuổi nhất làng cũng không gọi được tên. Bọn trẻ tan học là thế nào cũng chạy đến xem có ảnh mới không, có đứa còn lần lượt đặt tên cho từng con thú hoang trong ảnh, ai mà gọi sai là có người sửa ngay. Dần dần, thái độ của dân làng thay đổi. Có người chủ động báo cho Hồng Phàm biết khu rừng nào hay có thú xuất hiện, trên lối mòn nào vừa thấy dấu chân mới; có một ông cụ nhốt con chó nhà mình trong sân, bảo là sợ làm kinh động những "vị khách" trên núi. Mùa đông năm ngoái, mấy thanh niên lên núi phát hiện tấm lưới bẫy chim do người nơi khác lén giăng, lập tức gọi điện báo cho Hồng Phàm, còn giúp gỡ tấm lưới xuống. Nhắc đến những thay đổi này, Hồng Phàm nói trước đây anh tưởng bảo vệ rừng là nhờ vào quy định, giờ mới hiểu con người chỉ dốc lòng bảo vệ những gì mình thật sự quan tâm. "Tấm biển chỉ cho mọi người biết điều gì không được làm, còn những bức ảnh lại cho mọi người biết vì sao."
洪帆在路口立了牌子以后:Hóng Fān zài lùkǒu lì le páizi yǐhòu:Sau khi Hồng Phàm dựng biển ở các ngả đường thì tình hình ra sao?
洪帆是怎样利用那些照片的?Hóng Fān shì zěnyàng lìyòng nàxiē zhàopiàn de?Hồng Phàm đã sử dụng những bức ảnh đó như thế nào?
根据上文,下列哪项正确?Gēnjù shàngwén, xiàliè nǎ xiàng zhèngquè?Theo bài trên, ý nào sau đây đúng?
洪帆最后那句话的意思是:Hóng Fān zuìhòu nà jù huà de yìsi shì:Câu nói cuối cùng của Hồng Phàm có ý gì?

书写 Viết 2 câu · 100 điểm

第一部分

Viết văn bản ứng dụng ít nhất 150 chữ

Câu 81 · 1 câu

Viết một văn bản dùng trong đời sống, công việc theo yêu cầu (thông báo, thư mời, tin tìm người…): đúng thể loại, đủ các nội dung đề yêu cầu, có tiêu đề / lời gọi / ký tên khi thể loại cần. AI chấm cả hình thức lẫn nội dung, chỉ lỗi và viết lại bản đúng.

81Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề

Thể loại: 通知

你在一家中国公司的越南分公司办公室工作。下个月公司要搬到新的办公楼,需要提前告诉全体员工。请写一则通知,内容包括搬家的时间、新地址、员工需要做的准备和联系方式等,字数不少于150字。

Bạn làm ở văn phòng chi nhánh Việt Nam của một công ty Trung Quốc. Tháng sau công ty sẽ chuyển sang toà văn phòng mới, cần báo trước cho toàn thể nhân viên. Hãy viết một thông báo, gồm thời gian chuyển, địa chỉ mới, những việc nhân viên cần chuẩn bị, cách liên hệ…, ít nhất 150 chữ.

0 chữ · cần 150–400
Đáp án, giải thích và bài mẫu

Đáp án: 关于公司搬入新办公楼的通知 全体员工: 为了给大家提供更好的工作环境,公司将于下月八日(星期六)搬到城南的新办公楼,新地址是光明路十八号金桥大楼十二层。 搬家前,请大家注意以下事项: 一、六日下班前,请把个人物品放进公司发的纸箱,在箱子外面写清楚姓名和部门; 二、电脑、打印机等设备由搬家公司统一运送,请不要自己搬动; 三、贵重物品请自己保管,不要放在纸箱里。 下月十日(星期一)起,大家直接到新地址上班。新办公楼附近有两条公交线路,交通比现在更便捷。 如有问题,请到公司办公室咨询,或在公司工作群里留言。 公司办公室 十月二十日 / 搬家啦!新办公室等你来 各位同事: 好消息!下个月八号,我们就要离开现在这间又小又挤的办公室,搬进城南光明路十八号金桥大楼的十二层了。新办公室的面积比现在大了一倍,还安排了一个休息区和两间小会议室,大家都会有一张崭新的办公桌。 为了让搬家顺利进行,请大家配合做好下面几件事: (1)六号下班前整理好自己的桌子,把文件和小东西装进纸箱,贴上名字,以免搬的时候弄混; (2)不要的旧资料请放到走廊最里面的指定位置,不要随手乱扔; (3)新的门卡将在新办公室统一发放。 十号星期一,大家直接去新办公室上班,第一天中午公司请大家吃饭! 有任何疑问,随时在工作群里找公司办公室。 公司办公室 十月二十日

Vì sao: Đề yêu cầu viết thông báo (通知) đủ 4 nội dung: thời gian chuyển, địa chỉ mới, việc nhân viên cần chuẩn bị, cách liên hệ. Hai bài mẫu đều có tiêu đề, lời gọi (全体员工 / 各位同事), đủ 4 nội dung và ký tên đơn vị, ngày tháng; bài 1 giọng trang trọng, bài 2 thân mật hơn. Khi chấm, thiếu một nội dung đề yêu cầu hoặc thiếu hình thức của thông báo đều bị trừ điểm.

关于公司搬入新办公楼的通知 全体员工: 为了给大家提供更好的工作环境,公司将于下月八日(星期六)搬到城南的新办公楼,新地址是光明路十八号金桥大楼十二层。 搬家前,请大家注意以下事项: 一、六日下班前,请把个人物品放进公司发的纸箱,在箱子外面写清楚姓名和部门; 二、电脑、打印机等设备由搬家公司统一运送,请不要自己搬动; 三、贵重物品请自己保管,不要放在纸箱里。 下月十日(星期一)起,大家直接到新地址上班。新办公楼附近有两条公交线路,交通比现在更便捷。 如有问题,请到公司办公室咨询,或在公司工作群里留言。 公司办公室 十月二十日Guānyú gōngsī bān rù xīn bàngōnglóu de tōngzhī Quántǐ yuángōng: Wèile gěi dàjiā tígōng gèng hǎo de gōngzuò huánjìng, gōngsī jiāng yú xià yuè bā rì (xīngqīliù) bān dào chéngnán de xīn bàngōnglóu, xīn dìzhǐ shì Guāngmíng Lù shíbā hào Jīnqiáo Dàlóu shí'èr céng. Bānjiā qián, qǐng dàjiā zhùyì yǐxià shìxiàng: Yī, liù rì xiàbān qián, qǐng bǎ gèrén wùpǐn fàng jìn gōngsī fā de zhǐxiāng, zài xiāngzi wàimiàn xiě qīngchu xìngmíng hé bùmén; Èr, diànnǎo, dǎyìnjī děng shèbèi yóu bānjiā gōngsī tǒngyī yùnsòng, qǐng búyào zìjǐ bān dòng; Sān, guìzhòng wùpǐn qǐng zìjǐ bǎoguǎn, búyào fàng zài zhǐxiāng lǐ. Xià yuè shí rì (xīngqīyī) qǐ, dàjiā zhíjiē dào xīn dìzhǐ shàngbān. Xīn bàngōnglóu fùjìn yǒu liǎng tiáo gōngjiāo xiànlù, jiāotōng bǐ xiànzài gèng biànjié. Rú yǒu wèntí, qǐng dào gōngsī bàngōngshì zīxún, huò zài gōngsī gōngzuò qún lǐ liúyán. Gōngsī bàngōngshì Shí yuè èrshí rìThông báo về việc công ty chuyển sang toà văn phòng mới Kính gửi toàn thể nhân viên, Để mang lại cho mọi người môi trường làm việc tốt hơn, ngày mùng 8 tháng sau (thứ Bảy) công ty sẽ chuyển sang toà văn phòng mới ở phía nam thành phố, địa chỉ mới là tầng 12, toà nhà Kim Kiều, số 18 đường Quang Minh. Trước khi chuyển, mọi người lưu ý mấy việc sau: 1. Trước giờ tan làm ngày mùng 6, mọi người cho đồ dùng cá nhân vào thùng giấy công ty phát, ghi rõ họ tên và bộ phận ở ngoài thùng. 2. Máy tính, máy in và các thiết bị khác do công ty chuyển nhà vận chuyển chung, mọi người đừng tự khuân. 3. Đồ có giá trị thì mọi người tự cất giữ, đừng để trong thùng giấy. Từ ngày mùng 10 tháng sau (thứ Hai), mọi người đến thẳng địa chỉ mới làm việc. Gần toà nhà mới có hai tuyến xe buýt, đi lại thuận tiện hơn bây giờ. Có thắc mắc gì, mọi người đến văn phòng công ty hỏi, hoặc nhắn trong nhóm làm việc của công ty. Văn phòng công ty Ngày 20 tháng 10
搬家啦!新办公室等你来 各位同事: 好消息!下个月八号,我们就要离开现在这间又小又挤的办公室,搬进城南光明路十八号金桥大楼的十二层了。新办公室的面积比现在大了一倍,还安排了一个休息区和两间小会议室,大家都会有一张崭新的办公桌。 为了让搬家顺利进行,请大家配合做好下面几件事: (1)六号下班前整理好自己的桌子,把文件和小东西装进纸箱,贴上名字,以免搬的时候弄混; (2)不要的旧资料请放到走廊最里面的指定位置,不要随手乱扔; (3)新的门卡将在新办公室统一发放。 十号星期一,大家直接去新办公室上班,第一天中午公司请大家吃饭! 有任何疑问,随时在工作群里找公司办公室。 公司办公室 十月二十日Bānjiā lā! Xīn bàngōngshì děng nǐ lái Gèwèi tóngshì: Hǎo xiāoxi! Xià ge yuè bā hào, wǒmen jiù yào líkāi xiànzài zhè jiān yòu xiǎo yòu jǐ de bàngōngshì, bān jìn chéngnán Guāngmíng Lù shíbā hào Jīnqiáo Dàlóu de shí'èr céng le. Xīn bàngōngshì de miànjī bǐ xiànzài dà le yí bèi, hái ānpái le yí ge xiūxīqū hé liǎng jiān xiǎo huìyìshì, dàjiā dōu huì yǒu yì zhāng zhǎnxīn de bàngōng zhuō. Wèile ràng bānjiā shùnlì jìnxíng, qǐng dàjiā pèihé zuò hǎo xiàmiàn jǐ jiàn shì: (1) Liù hào xiàbān qián zhěnglǐ hǎo zìjǐ de zhuōzi, bǎ wénjiàn hé xiǎo dōngxi zhuāng jìn zhǐxiāng, tiē shàng míngzi, yǐmiǎn bān de shíhou nòng hùn; (2) Búyào de jiù zīliào qǐng fàng dào zǒuláng zuì lǐmiàn de zhǐdìng wèizhì, búyào suíshǒu luàn rēng; (3) Xīn de ménkǎ jiāng zài xīn bàngōngshì tǒngyī fāfàng. Shí hào xīngqīyī, dàjiā zhíjiē qù xīn bàngōngshì shàngbān, dì yī tiān zhōngwǔ gōngsī qǐng dàjiā chī fàn! Yǒu rènhé yíwèn, suíshí zài gōngzuò qún lǐ zhǎo gōngsī bàngōngshì. Gōngsī bàngōngshì Shí yuè èrshí rìChuyển nhà rồi! Văn phòng mới đang chờ bạn Các anh chị em đồng nghiệp, Tin vui đây! Mùng 8 tháng sau, chúng ta sẽ rời căn phòng vừa chật vừa đông hiện giờ, chuyển lên tầng 12 toà nhà Kim Kiều, số 18 đường Quang Minh ở phía nam thành phố. Văn phòng mới rộng gấp đôi bây giờ, còn có một khu nghỉ ngơi và hai phòng họp nhỏ, ai cũng sẽ có một chiếc bàn làm việc mới tinh. Để việc chuyển nhà suôn sẻ, mọi người phối hợp làm mấy việc dưới đây nhé. 1. Trước giờ tan làm ngày mùng 6, dọn gọn bàn của mình, cho tài liệu và đồ lặt vặt vào thùng giấy, dán tên lên kẻo lúc chuyển bị lẫn. 2. Tài liệu cũ không dùng nữa thì để ở chỗ quy định cuối hành lang, đừng tiện tay vứt bừa. 3. Thẻ ra vào mới sẽ được phát chung ở văn phòng mới. Thứ Hai ngày mùng 10, mọi người đến thẳng văn phòng mới làm việc, trưa ngày đầu tiên công ty mời cả nhà ăn cơm! Có gì thắc mắc, cứ nhắn văn phòng công ty trong nhóm làm việc bất cứ lúc nào. Văn phòng công ty Ngày 20 tháng 10
第二部分

Viết bài nghị luận ít nhất 300 chữ

Câu 82 · 1 câu

Đọc đề nêu một vấn đề, nêu quan điểm của bạn và lập luận, ít nhất 300 chữ Hán. AI chấm theo luận điểm, luận cứ, bố cục, ngữ pháp, từ vựng, chỉ lỗi và viết lại bản đúng; có 2 bài mẫu theo 2 hướng lập luận khác nhau để đối chiếu.

82Câu ví dụ thật trong ngân hàng đề
高考以后,很多人会面临这样的选择:是去一所有名的大学读一个不太喜欢的专业,还是去一所普通的大学读自己喜欢的专业?你会怎么选?请就这个话题谈谈你的观点,字数不少于300字。

Sau kỳ thi đại học, nhiều người đứng trước lựa chọn: vào một trường đại học danh tiếng học một ngành mình không thích lắm, hay vào một trường bình thường học ngành mình thích? Bạn sẽ chọn thế nào? Hãy trình bày quan điểm của bạn về vấn đề này, ít nhất 300 chữ.

0 chữ · cần 300–600
Đáp án, giải thích và bài mẫu

Đáp án: 如果让我选,我会选择自己喜欢的专业,哪怕学校没有那么有名。 首先,兴趣是学习最好的动力。大学四年,每天要面对的是专业课,而不是学校的名字。读自己喜欢的专业,遇到难题时也愿意花工夫去研究;如果每天学的都是自己不感兴趣的东西,就算学校再好,也很难学出成绩。我的表哥当年为了进名校,选了一个自己并不喜欢的专业,结果四年都提不起精神,毕业后只好换了行业,几乎等于重新开始。 其次,专业往往决定了一个人将来的职业方向。学校的名字可以帮我们找到第一份工作,但真正决定一个人能走多远的,是他在这个行业的能力和热情。一个热爱自己工作的人,更容易坚持下去,也更容易做出成绩。 当然,名校的老师、图书馆和各种机会确实更好,这一点我并不否认。可是,普通大学也有很多优秀的老师,毕业生的就业前景也不一定差;只要自己主动去寻找资源,同样可以得到很好的锻炼。 总之,与其为了一个名字勉强自己四年,不如选择自己真正喜欢的方向。学习的路很长,只有热爱才能让人走得更远。 / 很多人主张选择自己喜欢的专业,但我的看法有些不同:如果有机会进名校,我会先抓住这个机会。 第一,名校能提供更好的学习条件。名校的老师大多是各自领域的专家,图书馆的书籍和实验设备也更齐全。更重要的是,身边的同学都很优秀,大家互相激励,自己也会跟着进步。这种氛围,是很多普通学校难以提供的。 第二,十八岁时的“喜欢”不一定可靠。很多高中生对专业的了解只停留在名字上,真正学了以后,才发现和想象的完全不一样。相反,有些人一开始并不喜欢自己的专业,学进去以后反而发现了其中的乐趣。兴趣不是生下来就有的,是可以慢慢培养的。 第三,名校的选修课和转专业的机会通常更多。即便入学时的专业不理想,也可以通过选修其他课程,一步一步靠近自己的兴趣。 当然,我并不是说兴趣不重要。如果一个人对某个专业有非常明确的热爱,而且这种热爱已经坚持了很多年,那他应该坚持自己的选择。但对大多数还没想清楚的人来说,先进入一个更好的环境,再在其中寻找方向,也许是更可靠的做法。

Vì sao: Đề hỏi bạn chọn trường danh tiếng hay ngành mình thích và yêu cầu nêu quan điểm, ít nhất 300 chữ. Hai bài mẫu chọn 2 hướng ngược nhau: bài 1 chọn ngành mình thích (hứng thú là động lực, ngành quyết định nghề), bài 2 chọn trường danh tiếng (điều kiện học tốt hơn, sở thích tuổi 18 chưa chắc chắn). Cả hai đều nêu quan điểm ngay đầu, có 2–3 luận cứ kèm ví dụ, thừa nhận ý phản bác rồi kết luận; chỉ kể chuyện mà không nêu quan điểm sẽ bị trừ nặng.

如果让我选,我会选择自己喜欢的专业,哪怕学校没有那么有名。 首先,兴趣是学习最好的动力。大学四年,每天要面对的是专业课,而不是学校的名字。读自己喜欢的专业,遇到难题时也愿意花工夫去研究;如果每天学的都是自己不感兴趣的东西,就算学校再好,也很难学出成绩。我的表哥当年为了进名校,选了一个自己并不喜欢的专业,结果四年都提不起精神,毕业后只好换了行业,几乎等于重新开始。 其次,专业往往决定了一个人将来的职业方向。学校的名字可以帮我们找到第一份工作,但真正决定一个人能走多远的,是他在这个行业的能力和热情。一个热爱自己工作的人,更容易坚持下去,也更容易做出成绩。 当然,名校的老师、图书馆和各种机会确实更好,这一点我并不否认。可是,普通大学也有很多优秀的老师,毕业生的就业前景也不一定差;只要自己主动去寻找资源,同样可以得到很好的锻炼。 总之,与其为了一个名字勉强自己四年,不如选择自己真正喜欢的方向。学习的路很长,只有热爱才能让人走得更远。Rúguǒ ràng wǒ xuǎn, wǒ huì xuǎnzé zìjǐ xǐhuan de zhuānyè, nǎpà xuéxiào méiyǒu nàme yǒumíng. Shǒuxiān, xìngqù shì xuéxí zuìhǎo de dònglì. Dàxué sì nián, měi tiān yào miànduì de shì zhuānyèkè, ér bú shì xuéxiào de míngzi. Dú zìjǐ xǐhuan de zhuānyè, yùdào nántí shí yě yuànyì huā gōngfu qù yánjiū; rúguǒ měi tiān xué de dōu shì zìjǐ bù gǎn xìngqù de dōngxi, jiùsuàn xuéxiào zài hǎo, yě hěn nán xué chū chéngjì. Wǒ de biǎogē dāngnián wèile jìn míngxiào, xuǎn le yí ge zìjǐ bìng bù xǐhuan de zhuānyè, jiéguǒ sì nián dōu tí bu qǐ jīngshen, bìyè hòu zhǐhǎo huàn le hángyè, jīhū děngyú chóngxīn kāishǐ. Qícì, zhuānyè wǎngwǎng juédìng le yí ge rén jiānglái de zhíyè fāngxiàng. Xuéxiào de míngzi kěyǐ bāng wǒmen zhǎo dào dì yī fèn gōngzuò, dàn zhēnzhèng juédìng yí ge rén néng zǒu duō yuǎn de, shì tā zài zhège hángyè de nénglì hé rèqíng. Yí ge rè'ài zìjǐ gōngzuò de rén, gèng róngyì jiānchí xiàqù, yě gèng róngyì zuò chū chéngjì. Dāngrán, míngxiào de lǎoshī, túshūguǎn hé gèzhǒng jīhuì quèshí gèng hǎo, zhè yì diǎn wǒ bìng bù fǒurèn. Kěshì, pǔtōng dàxué yě yǒu hěn duō yōuxiù de lǎoshī, bìyèshēng de jiùyè qiánjǐng yě bù yídìng chà; zhǐyào zìjǐ zhǔdòng qù xúnzhǎo zīyuán, tóngyàng kěyǐ dédào hěn hǎo de duànliàn. Zǒngzhī, yǔqí wèile yí ge míngzi miǎnqiǎng zìjǐ sì nián, bùrú xuǎnzé zìjǐ zhēnzhèng xǐhuan de fāngxiàng. Xuéxí de lù hěn cháng, zhǐyǒu rè'ài cái néng ràng rén zǒu de gèng yuǎn.Nếu để tôi chọn, tôi sẽ chọn ngành mình thích, dù trường không nổi tiếng đến thế. Trước hết, hứng thú là động lực học tập tốt nhất. Bốn năm đại học, ngày nào ta cũng phải đối mặt với các môn chuyên ngành chứ không phải với cái tên của trường. Học ngành mình thích thì gặp bài khó cũng sẵn lòng bỏ công nghiên cứu; còn nếu ngày nào cũng học những thứ mình không hứng thú, thì trường có tốt đến mấy cũng khó học ra kết quả. Anh họ tôi năm đó vì muốn vào trường danh tiếng mà chọn một ngành mình chẳng hề thích, kết quả bốn năm liền không sao hăng hái nổi, tốt nghiệp xong đành đổi nghề, gần như làm lại mọi thứ từ đầu. Tiếp theo, ngành học thường quyết định hướng nghề nghiệp của một người sau này. Tên tuổi của trường có thể giúp ta tìm được công việc đầu tiên, nhưng thứ thật sự quyết định một người đi được bao xa là năng lực và nhiệt huyết của họ trong nghề. Một người yêu công việc của mình thì dễ kiên trì hơn, cũng dễ làm nên thành tích hơn. Đương nhiên, thầy cô, thư viện và đủ loại cơ hội ở trường danh tiếng quả thật tốt hơn, điều này tôi không phủ nhận. Nhưng trường bình thường cũng có nhiều thầy cô giỏi, triển vọng việc làm của sinh viên tốt nghiệp cũng chưa chắc đã kém; chỉ cần bản thân chủ động tìm kiếm nguồn lực thì vẫn được rèn luyện rất tốt. Tóm lại, thay vì vì một cái tên mà gượng ép bản thân suốt bốn năm, chi bằng chọn hướng đi mình thật sự yêu thích. Đường học tập còn rất dài, chỉ có niềm yêu thích mới giúp con người đi xa hơn.
很多人主张选择自己喜欢的专业,但我的看法有些不同:如果有机会进名校,我会先抓住这个机会。 第一,名校能提供更好的学习条件。名校的老师大多是各自领域的专家,图书馆的书籍和实验设备也更齐全。更重要的是,身边的同学都很优秀,大家互相激励,自己也会跟着进步。这种氛围,是很多普通学校难以提供的。 第二,十八岁时的“喜欢”不一定可靠。很多高中生对专业的了解只停留在名字上,真正学了以后,才发现和想象的完全不一样。相反,有些人一开始并不喜欢自己的专业,学进去以后反而发现了其中的乐趣。兴趣不是生下来就有的,是可以慢慢培养的。 第三,名校的选修课和转专业的机会通常更多。即便入学时的专业不理想,也可以通过选修其他课程,一步一步靠近自己的兴趣。 当然,我并不是说兴趣不重要。如果一个人对某个专业有非常明确的热爱,而且这种热爱已经坚持了很多年,那他应该坚持自己的选择。但对大多数还没想清楚的人来说,先进入一个更好的环境,再在其中寻找方向,也许是更可靠的做法。Hěn duō rén zhǔzhāng xuǎnzé zìjǐ xǐhuan de zhuānyè, dàn wǒ de kànfǎ yǒuxiē bùtóng: rúguǒ yǒu jīhuì jìn míngxiào, wǒ huì xiān zhuā zhù zhège jīhuì. Dì yī, míngxiào néng tígōng gèng hǎo de xuéxí tiáojiàn. Míngxiào de lǎoshī dàduō shì gèzì lǐngyù de zhuānjiā, túshūguǎn de shūjí hé shíyàn shèbèi yě gèng qíquán. Gèng zhòngyào de shì, shēnbiān de tóngxué dōu hěn yōuxiù, dàjiā hùxiāng jīlì, zìjǐ yě huì gēn zhe jìnbù. Zhè zhǒng fēnwéi, shì hěn duō pǔtōng xuéxiào nányǐ tígōng de. Dì èr, shíbā suì shí de “xǐhuan” bù yídìng kěkào. Hěn duō gāozhōngshēng duì zhuānyè de liǎojiě zhǐ tíngliú zài míngzi shàng, zhēnzhèng xué le yǐhòu, cái fāxiàn hé xiǎngxiàng de wánquán bù yíyàng. Xiāngfǎn, yǒuxiē rén yì kāishǐ bìng bù xǐhuan zìjǐ de zhuānyè, xué jìnqù yǐhòu fǎn'ér fāxiàn le qízhōng de lèqù. Xìngqù bú shì shēng xiàlái jiù yǒude, shì kěyǐ mànmàn péiyǎng de. Dì sān, míngxiào de xuǎnxiū kè hé zhuǎn zhuānyè de jīhuì tōngcháng gèng duō. Jíbiàn rùxué shí de zhuānyè bù lǐxiǎng, yě kěyǐ tōngguò xuǎnxiū qítā kèchéng, yí bù yí bù kàojìn zìjǐ de xìngqù. Dāngrán, wǒ bìng bú shì shuō xìngqù bú zhòngyào. Rúguǒ yí ge rén duì mǒu ge zhuānyè yǒu fēicháng míngquè de rè'ài, érqiě zhè zhǒng rè'ài yǐjīng jiānchí le hěn duō nián, nà tā yīnggāi jiānchí zìjǐ de xuǎnzé. Dàn duì dàduōshù hái méi xiǎng qīngchu de rén lái shuō, xiān jìnrù yí ge gèng hǎo de huánjìng, zài zài qízhōng xúnzhǎo fāngxiàng, yěxǔ shì gèng kěkào de zuòfǎ.Nhiều người chủ trương chọn ngành mình thích, nhưng cách nhìn của tôi hơi khác: nếu có cơ hội vào trường danh tiếng, tôi sẽ nắm lấy cơ hội đó trước. Thứ nhất, trường danh tiếng có thể mang lại điều kiện học tập tốt hơn. Thầy cô ở đó phần lớn là chuyên gia trong lĩnh vực của mình, sách vở trong thư viện và thiết bị thí nghiệm cũng đầy đủ hơn. Quan trọng hơn, bạn bè xung quanh đều rất giỏi, mọi người khích lệ lẫn nhau, bản thân cũng sẽ tiến bộ theo. Bầu không khí ấy là thứ nhiều trường bình thường khó có được. Thứ hai, cái "thích" ở tuổi mười tám chưa chắc đã đáng tin. Nhiều học sinh cấp ba hiểu về ngành học chỉ dừng lại ở cái tên, đến khi học thật mới thấy khác hẳn với tưởng tượng. Ngược lại, có người lúc đầu không hề thích ngành của mình, học sâu vào rồi lại tìm ra niềm vui trong đó. Hứng thú không phải bẩm sinh mà là thứ có thể dần dần bồi đắp. Thứ ba, trường danh tiếng thường có nhiều môn tự chọn và nhiều cơ hội chuyển ngành hơn. Dù ngành lúc nhập học chưa như ý, ta vẫn có thể học thêm các môn khác để từng bước tiến gần tới sở thích của mình. Đương nhiên, tôi không nói hứng thú là không quan trọng. Nếu một người có niềm đam mê rất rõ ràng với một ngành nào đó, và niềm đam mê ấy đã giữ được nhiều năm, thì người đó nên kiên định với lựa chọn của mình. Nhưng với phần lớn những người còn chưa nghĩ kỹ, vào một môi trường tốt hơn trước rồi mới tìm hướng đi trong đó, có lẽ là cách làm chắc chắn hơn.

Cách vào thi

  1. Đăng nhập tài khoản 123tiengtrung.com (đăng ký nhanh bằng Google). Thi HSK6 không chấm AI nằm trong gói Premium. Muốn AI chấm câu viết tự do, bạn nạp ví rồi mua lượt chấm AI (dùng chung cho mọi cấp từ HSK3 và cho luyện tập chấm AI sau này). Giá xem ở bảng giá.
  2. Trên thanh menu chọn Thi thử HSK → HSK6, xem bảng cấu trúc rồi bấm Bắt đầu làm bài.
  3. Làm lần lượt từng phần. Bấm "Bắt đầu phần Nghe": băng phát liền một mạch 1 lần như phòng thi, trang tự chuyển theo băng. Dãy số câu ở trên cùng cho biết câu nào đã làm; bấm vào số để chuyển phần.
  4. Hết 125 phút đề tự nộp. Bạn cũng có thể bấm Nộp bài ở phần cuối.
  5. Xem kết quả: đỗ hay trượt, điểm từng kỹ năng, từng câu đúng sai kèm audio, lời thoại, pinyin và nghĩa. Đỗ thì nhận chứng nhận tượng trưng có thể tải về.

Hỏi đáp

Đề thi thử HSK6 này có phải đề thi chính thức không?

Không. Đây là đề luyện do 123tiengtrung.com biên soạn theo chuẩn HSK 3.0 và cấu trúc đề HSK6, không phải đề của Chinese Testing International. Điểm và chứng nhận trên web chỉ để tự đánh giá.

Mỗi lần thi có giống nhau không?

Không. Mỗi lần bấm "Bắt đầu làm bài", bạn nhận một đề mới ghép từ ngân hàng 320 câu, theo đúng số câu và dạng câu của từng phần.

Phần Nghe được phát mấy lần?

Khi thi thử cả đề, phần Nghe phát liền một mạch như băng đề thật: lời đọc yêu cầu từng phần, câu ví dụ, số câu, mỗi câu nghe 1 lần rồi có thời gian chờ để chọn đáp án, trang tự chuyển theo băng. Tổng thời gian băng nằm trong quỹ giờ phần Nghe của đề. Khi luyện từng phần, mỗi câu cũng chỉ nghe 1 lần như thi thật; muốn nghe lại để học thì bật "Nghe tự do". Audio là giọng đọc chuẩn Bắc Kinh, có giọng nam và giọng nữ.

Thi xong có xem lại được không?

Có. Trang kết quả cho biết đỗ hay trượt, điểm từng kỹ năng, và từng câu: bạn chọn gì, đáp án đúng, nghe lại audio, xem lời thoại kèm pinyin và nghĩa tiếng Việt.

Phần Viết chấm thế nào?

Phần Viết HSK6 gồm 2 bài viết tự do: một văn bản ứng dụng ít nhất 150 chữ (thông báo, thư mời, tin tìm người…) và một bài nghị luận ít nhất 300 chữ. Trong lúc viết, máy đếm chữ cho bạn. Sau khi nộp, AI chấm từng bài: văn bản ứng dụng chấm cả hình thức (tiêu đề, lời gọi, ký tên) và đủ nội dung đề yêu cầu; bài nghị luận chấm luận điểm, luận cứ, bố cục, ngữ pháp, từ vựng. AI chỉ lỗi và viết lại bản đúng (dùng lượt chấm AI mua qua ví), kèm bài mẫu để đối chiếu.

Có thể thi mà không cần AI chấm không?

Có. Trước khi bắt đầu, bạn có thể chọn "Không chấm AI": các câu viết tự do không tính điểm. Cách thi này nằm trong gói Premium. Điểm tối đa giảm theo số câu không chấm, ngưỡng đỗ giữ nguyên (HSK6: 180 điểm); đủ điểm thì web báo "đủ điểm đỗ". Với HSK6, cả 2 câu Viết đều là viết tự do, nên khi không chấm AI chỉ còn Nghe và Đọc (tối đa 200 điểm).

Sẵn sàng thử sức với HSK6? Mỗi lần làm là một đề mới.

Nội dung đề có thể có sai sót. Thấy câu nào sai, sau khi nộp bài bạn bấm ⚑ Báo lỗi tại câu đó ở phần xem đáp án, hoặc báo cho chúng tôi, để chúng tôi hoàn thiện.