123tiengtrung.comNgữ pháp

Sáng chủ nhật, bà gọi tôi đi cùng bà ra… — Ngữ pháp tiếng Trung

Ngữ phápSángchủnhậtbàtự học tiếng Trung

Bài "Sáng chủ nhật, bà gọi tôi đi cùng bà ra chợ mua rau" giúp bạn luyện ngữ pháp qua bài đọc tiếng Trung qua tình huống thực tế. Ôn các điểm ngữ pháp: Thành phần chính: Chủ ngữ, Vị ngữ, Tân ngữ; Thành phần phụ: Định ngữ, Trạng ngữ, Bổ ngữ; Tính từ & hình thức trùng điệp (AA/AABB/ABB); Đại từ: nhân xưng, chỉ định, nghi vấn; Số từ: đếm, thứ tự, phân số, ước lượng. Có đầy đủ phiên âm pinyin và nghĩa tiếng Việt, kèm từ vựng trích trong bài — phù hợp cho người tự học tiếng Trung.

星期天早上, 奶奶叫我 陪她 去市场 买菜 。 Xīngqītiān zǎoshang, nǎinai jiào wǒ péi tā qù shìchǎng mǎi cài . Sáng chủ nhật, bà gọi tôi đi cùng bà ra chợ mua rau .
这是 我第一次 跟奶奶一起 去 那个老市场 。 Zhè shì wǒ dì yī cì gēn nǎinai yìqǐ qù nàge lǎo shìchǎng . Đây là lần đầu tiên tôi cùng bà đến khu chợ cũ đó .
市场里 人很多, 大家都在挑 新鲜的水果 和蔬菜 。 Shìchǎng li rén hěn duō, dàjiā dōu zài tiāo xīnxiān de shuǐguǒ hé shūcài . Trong chợ người rất đông, mọi người đều đang chọn hoa quả tươi và rau .
奶奶拉着 我的手, 慢慢地 走进市场 。 Nǎinai lāzhe wǒ de shǒu, mànmàn de zǒujìn shìchǎng . Bà nắm tay tôi, từ từ đi vào chợ .
第一个摊位 卖的是 红红的苹果 和黄黄的香蕉 。 Dì yī ge tānwèi mài de shì hónghóng de píngguǒ hé huánghuáng de xiāngjiāo . Sạp hàng đầu tiên bán là táo đỏ đỏ và chuối vàng vàng .
奶奶问老板: “这些苹果 怎么卖?” Nǎinai wèn lǎobǎn: "zhèxiē píngguǒ zěnme mài?" Bà hỏi ông chủ: "Những quả táo này bán thế nào?"
老板笑着说: “三块五一斤, 你要几斤?” Lǎobǎn xiàozhe shuō: "sān kuài wǔ yì jīn, nǐ yào jǐ jīn?" Ông chủ cười nói: "Ba đồng rưỡi một cân, chị lấy mấy cân?"
奶奶挑了 差不多两斤苹果, 又要了 半斤香蕉 。 Nǎinai tiāo le chàbuduō liǎng jīn píngguǒ, yòu yào le bàn jīn xiāngjiāo . Bà chọn khoảng hai cân táo, lại lấy thêm nửa cân chuối .
我们又走到 第二个摊位, 那里摆着 大大的西瓜 。 Wǒmen yòu zǒudào dì èr ge tānwèi, nàli bǎizhe dàdà de xīguā . Chúng tôi lại đi đến sạp thứ hai, ở đó bày những quả dưa hấu to to .
奶奶用手 拍了拍西瓜, 听声音 判断甜不甜 。 Nǎinai yòng shǒu pāi le pāi xīguā, tīng shēngyīn pànduàn tián bu tián . Bà dùng tay vỗ vỗ vào quả dưa, nghe âm thanh đoán xem có ngọt không .
她挑了 一个圆圆的西瓜, 看起来 很甜 。 Tā tiāo le yí ge yuányuán de xīguā, kàn qǐlai hěn tián . Bà chọn một quả dưa tròn tròn, nhìn có vẻ rất ngọt .
卖西瓜的是 一个年轻人, 他说话 说得很有礼貌 。 Mài xīguā de shì yí ge niánqīngrén, tā shuōhuà shuō de hěn yǒu lǐmào . Người bán dưa hấu là một chàng trai trẻ, cậu ấy nói chuyện nói rất lịch sự .
走了一会儿, 我看见 路边 有个卖菜的老奶奶 。 Zǒu le yíhuìr, wǒ kànjiàn lùbiān yǒu ge mài cài de lǎonǎinai . Đi được một lúc, tôi nhìn thấy bên đường có một bà cụ bán rau .
她的菜摊 很干净, 青菜 洗得干干净净的 。 Tā de càitān hěn gānjìng, qīngcài xǐ de gāngānjìngjìng de . Sạp rau của bà rất sạch sẽ, rau xanh được rửa sạch sẽ .
奶奶买了 一把青菜 和三个西红柿 。 Nǎinai mǎi le yì bǎ qīngcài hé sān ge xīhóngshì . Bà mua một mớ rau xanh và ba quả cà chua .
我问奶奶: “这个 多少钱一斤?” Wǒ wèn nǎinai: "zhège duōshao qián yì jīn?" Tôi hỏi bà: "Cái này bao nhiêu tiền một cân?"
奶奶说: “这个不贵, 才两块钱左右。” Nǎinai shuō: "zhège bú guì, cái liǎng kuài qián zuǒyòu." Bà nói: "Cái này không đắt, chỉ khoảng hai đồng thôi."
我们最后 走到卖鱼的地方, 那儿的鱼 新鲜极了 。 Wǒmen zuìhòu zǒudào mài yú de dìfang, nàr de yú xīnxiān jíle . Cuối cùng chúng tôi đi đến chỗ bán cá, cá ở đó tươi cực kỳ .
奶奶挑了 一条大概 一斤半的鱼, 准备 晚上做汤 。 Nǎinai tiāo le yì tiáo dàgài yì jīn bàn de yú, zhǔnbèi wǎnshang zuò tāng . Bà chọn một con cá khoảng một cân rưỡi, chuẩn bị tối nấu canh .
卖鱼的师傅 动作很快, 一会儿就 把鱼收拾好了 。 Mài yú de shīfu dòngzuò hěn kuài, yíhuìr jiù bǎ yú shōushi hǎo le . Người bán cá làm rất nhanh, chỉ một lát đã làm sạch cá xong .
我们提着 满满的两个袋子, 高高兴兴地 往家走 。 Wǒmen tízhe mǎnmǎn de liǎng ge dàizi, gāogāoxìngxìng de wǎng jiā zǒu . Chúng tôi xách hai túi đầy ắp, vui vẻ đi về nhà .
路上, 奶奶给我讲 这个市场 以前的样子 。 Lùshang, nǎinai gěi wǒ jiǎng zhège shìchǎng yǐqián de yàngzi . Trên đường, bà kể cho tôi nghe khu chợ này trước đây trông thế nào .
她说, 四十年前, 这里只是 一个小小的摊位 。 Tā shuō, sìshí nián qián, zhèli zhǐshì yí ge xiǎoxiǎo de tānwèi . Bà nói, bốn mươi năm trước, nơi này chỉ là một sạp hàng nho nhỏ .
我好奇地问: “那时候 东西便宜吗?” Wǒ hàoqí de wèn: "nà shíhou dōngxi piányi ma?" Tôi tò mò hỏi: "Lúc đó đồ có rẻ không?"
奶奶笑着说, 以前 一斤苹果 只要几毛钱 。 Nǎinai xiàozhe shuō, yǐqián yì jīn píngguǒ zhǐ yào jǐ máo qián . Bà cười nói, trước đây một cân táo chỉ mất mấy hào .
回到家, 我们把买来的菜 整整齐齐地 摆在桌子上 。 Huídào jiā, wǒmen bǎ mǎilai de cài zhěngzhěngqíqí de bǎi zài zhuōzi shàng . Về đến nhà, chúng tôi xếp rau vừa mua ngay ngắn lên bàn .
妈妈看到 这么多新鲜的菜, 开心得 笑了起来 。 Māma kàndào zhème duō xīnxiān de cài, kāixīn de xiào le qǐlai . Mẹ nhìn thấy nhiều rau tươi như vậy, vui đến mức cười lên .
奶奶说, 下个星期天 她还要带我 去那个市场 。 Nǎinai shuō, xià ge xīngqītiān tā hái yào dài wǒ qù nàge shìchǎng . Bà nói, chủ nhật tuần sau bà vẫn muốn dẫn tôi đến khu chợ đó .
我笑着说, 好啊, 我最喜欢 跟奶奶一起 去买菜了 。 Wǒ xiàozhe shuō, hǎo a, wǒ zuì xǐhuan gēn nǎinai yìqǐ qù mǎi cài le . Tôi cười nói, được thôi, tôi thích nhất cùng bà đi chợ mua rau .
这次买菜的经历 让我明白, 原来生活中 处处都是学问 。 Zhè cì mǎi cài de jīnglì ràng wǒ míngbai, yuánlái shēnghuó zhōng chùchù dōu shì xuéwèn . Trải nghiệm đi chợ lần này khiến tôi hiểu ra, hoá ra trong cuộc sống khắp nơi đều là kiến thức .

Từ vựng trong bài

  • 星期天HSK1
    xīngqītiānchủ nhật
  • 早上HSK1
    zǎoshangbuổi sáng
  • 叫HSK1
    jiàogọi; tên là
  • 我HSK1
    wǒtôi
  • 她HSK1
    tācô ấy
  • 去HSK1
    qùđi
  • 买HSK1
    mǎimua
  • 菜HSK1
    càimón ăn; rau
  • 这HSK1
    zhènày; đây
  • 是HSK1
    shìlà
  • 第HSK1
    dìthứ (tự)
  • 一HSK1
    yīmột
  • 那个HSK1
    nàgecái đó
  • 里HSK1
    lǐtrong; bên trong
  • 人HSK1
    rénngười
  • 很HSK1
    hěnrất
  • 多HSK1
    duōnhiều
  • 大家HSK1
    dàjiāmọi người
  • 都HSK1
    dōuđều; tất cả
  • 在HSK1
    zàiở; đang (chỉ hành động đang diễn ra)
  • 新HSK1
    xīnmới
  • 的HSK1
    decủa (trợ từ sở hữu)
  • 水果HSK1
    shuǐ guǒtrái cây
  • 和HSK1
    hévà; cùng với
  • 个HSK1
    gècái; (lượng từ chung)
  • 卖HSK1
    màibán
  • 苹果HSK1
    píng guǒquả táo
  • 问HSK1
    wènhỏi
  • 这些HSK1
    zhèxiēnhững cái này
  • 怎么HSK1
    zěn methế nào; sao
  • 说HSK1
    shuōnói
  • 三HSK1
    sānba
  • 块HSK1
    kuàiđồng (tiền); miếng; cục
  • 五HSK1
    wǔnăm (số 5)
  • 你HSK1
    nǐbạn
  • 要HSK1
    yàomuốn, cần
  • 几HSK1
    jǐmấy; bao nhiêu
  • 了HSK1
    le(trợ từ chỉ hành động đã hoàn thành)
  • 不HSK1
    bùkhông
  • 两HSK1
    liǎnghai (số lượng)
  • 半HSK1
    bànnửa
  • 我们HSK1
    wǒ menchúng tôi; chúng ta
  • 到HSK1
    dàođến
  • 二HSK1
    èrhai
  • 那里HSK1
    nàlǐở đó
  • 大HSK1
    dàto; lớn
  • 听HSK1
    tīngnghe
  • 看HSK1
    kànxem; nhìn; đọc
  • 来HSK1
    láiđến; tới
  • 年HSK1
    niánnăm
  • 他HSK1
    tāanh ấy; ông ấy; nó (nam)
  • 说话HSK1
    shuō huànói chuyện
  • 有HSK1
    yǒucó
  • 会HSK1
    huìbiết (cách làm); có thể; sẽ; cuộc họp
  • 看见HSK1
    kàn jiànnhìn thấy
  • 边HSK1
    biānbên (hậu tố)
  • 这个HSK1
    zhègecái này
  • 多少HSK1
    duō shǎobao nhiêu
  • 钱HSK1
    qiántiền
  • 贵HSK1
    guìđắt
  • 后HSK1
    hòusau
  • 那儿HSK1
    nàrở đó
  • 晚上HSK1
    wǎnshangbuổi tối
  • 做HSK1
    zuòlàm
  • 好HSK1
    hǎotốt; giỏi; khoẻ
  • 高兴HSK1
    gāo xìngvui; vui vẻ
  • 家HSK1
    jiānhà; gia đình
  • 上HSK1
    shàngtrên; lên
  • 给HSK1
    gěicho, đưa
  • 前HSK1
    qiántrước
  • 四HSK1
    sìbốn
  • 十HSK1
    shímười
  • 这里HSK1
    zhèlǐở đây
  • 只HSK1
    zhīcon (lượng từ)
  • 小HSK1
    xiǎonhỏ
  • 那HSK1
    nàđó; kia
  • 时候HSK1
    shí houlúc; thời gian; khi
  • 东西HSK1
    dōng xīđồ vật; thứ
  • 便宜HSK1
    piányirẻ
  • 吗HSK1
    ma(trợ từ hỏi)
  • 回HSK1
    huívề; quay lại; lần
  • 桌子HSK1
    zhuō zicái bàn
  • 妈妈HSK1
    mā mamẹ
  • 开HSK1
    kāimở; bật; lái (xe)
  • 下HSK1
    xiàdưới; xuống
  • 还HSK1
    háivẫn, còn
  • 喜欢HSK1
    xǐ huanthích
  • 学HSK1
    xuéhọc

Ghi chú ngữ pháp

Thành phần chính: Chủ ngữ, Vị ngữ, Tân ngữ — 主谓宾 HSK1

3 thành phần bắt buộc tạo nên khung xương của 1 câu tiếng Trung: Chủ ngữ (ai/cái gì thực hiện hành động) — Vị ngữ (hành động/trạng thái, thường là động từ hoặc tính từ) — Tân ngữ (đối tượng chịu tác động, đứng NGAY SAU vị ngữ). Câu đơn giản nhất chỉ cần Chủ+Vị ("他哭了" (tā kū le) - Anh ấy khóc rồi), câu có tân ngữ thì đủ cả 3 ("他吃饭" (tā chī fàn) - Anh ấy ăn cơm). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: khung Chủ-Vị-Tân của tiếng Trung GẦN GIỐNG tiếng Việt (cùng là ngôn ngữ SVO cơ bản), nên đây KHÔNG phải điểm khó chính — cái khó nằm ở chỗ tiếng Trung không được PHÉP BỎ chủ ngữ tuỳ tiện như tiếng Việt hay làm trong văn nói (vd tiếng Việt có thể nói trống "Ăn cơm chưa?" bỏ hẳn chủ ngữ, nhưng tiếng Trung trang trọng/viết vẫn cần chủ ngữ rõ ràng dù trong khẩu ngữ cũng có thể lược). LƯU Ý VỀ VỊ NGỮ: khác tiếng Việt hay dùng "là" cho MỌI câu miêu tả tính chất ("Cô ấy là xinh"), tiếng Trung câu tính từ làm vị ngữ KHÔNG cần 是 (shì, là) — chỉ nói thẳng "她很漂亮" (tā hěn piào liang) (Cô ấy rất xinh), thêm 是 vào sẽ SAI hoặc đổi hẳn sắc thái thành nhấn mạnh/phân loại. Đây là lỗi rất phổ biến do ảnh hưởng thói quen dùng "là" của tiếng Việt.

Đại từ: nhân xưng, chỉ định, nghi vấn — 代词 HSK1

3 nhóm đại từ chính: Nhân xưng (我/你/他/她/它/我们/你们/他们 — tôi/bạn/anh ấy/cô ấy/nó/chúng tôi...), Chỉ định (这 gần vs 那 xa, và các biến thể 这个/那个, 这些/那些, 这里/那里, 这时候/那时候...), Nghi vấn (谁 ai, 什么 gì, 怎么 thế nào, 怎样/怎么样 ra sao, 哪 nào, 哪里 đâu, 为什么 tại sao, 多少/几 bao nhiêu). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đại từ nhân xưng và chỉ định giữa 2 ngôn ngữ khá tương đồng về CHỨC NĂNG (đều phân biệt gần/xa, đều có ngôi 1/2/3), khác biệt lớn nhất nằm ở ĐẠI TỪ NGHI VẤN — tiếng Trung giữ NGUYÊN VỊ TRÍ của thành phần được hỏi trong câu, không đảo lên đầu câu như tiếng Anh (và đôi khi cả tiếng Việt trang trọng cũng đảo). Ví dụ: "你去哪里?" (nǐ qù nǎ lǐ ?) (Bạn đi ĐÂU?) — 哪里 đứng ĐÚNG VỊ TRÍ của tân ngữ chỉ nơi chốn, y hệt câu khẳng định "你去北京" (nǐ qù běi jīng) (Bạn đi Bắc Kinh) chỉ THAY 北京 bằng 哪里, không đảo cấu trúc câu. Đây thực ra lại là điểm THUẬN LỢI cho người Việt vì tiếng Việt khẩu ngữ cũng giữ nguyên vị trí y hệt ("Bạn đi đâu?" — không đảo), ngược với tiếng Anh phải đảo "Where do you go?". LỖI HAY GẶP: nhầm 这个/那个 (cái này/cái đó, dùng cho SỐ ÍT) với 这些/那些 (những cái này/đó, dùng cho SỐ NHIỀU) — tiếng Việt "cái này" không tự động phân biệt số ít/nhiều như tiếng Trung bắt buộc phải chọn đúng dạng đơn/phức của đại từ chỉ định.

Thành phần phụ: Định ngữ, Trạng ngữ, Bổ ngữ — 定状补 HSK2

3 thành phần PHỤ giúp câu chi tiết hơn, mỗi loại có vị trí cố định riêng: Định ngữ (定语, bổ nghĩa cho DANH TỪ, luôn đứng TRƯỚC danh từ, thường có 的) — Trạng ngữ (状语, bổ nghĩa cho ĐỘNG TỪ/TÍNH TỪ, đứng TRƯỚC động từ/tính từ, thường có 地) — Bổ ngữ (补语, bổ nghĩa cho ĐỘNG TỪ/TÍNH TỪ nhưng đứng SAU, thường có 得). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây là 1 trong những khác biệt SÂU SẮC nhất giữa 2 ngôn ngữ. Tiếng Việt là ngôn ngữ "modifier sau" (từ bổ nghĩa đứng SAU từ được bổ nghĩa) — "cái áo đẹp", "đẹp" đứng sau "áo". Tiếng Trung định ngữ lại đứng TRƯỚC: "漂亮的衣服" (piào liang de yī fu) (đẹp-的-áo), y hệt tiếng Anh "beautiful clothes". Vì vậy khi dịch cụm danh từ có nhiều lớp bổ nghĩa, người Việt phải tập ĐẢO NGƯỢC thứ tự trong đầu trước khi nói tiếng Trung. Trạng ngữ (地) thì tiếng Việt và tiếng Trung GIỐNG NHAU về vị trí (đều đứng trước động từ: "từ từ đi" ~ "慢慢地走" (màn màn dì zǒu)), nên phần này ít gây lỗi hơn. Ngược lại Bổ ngữ (得) là khái niệm tiếng Việt KHÔNG CÓ tương đương trực tiếp — "跑得很快" (pǎo dé hěn kuài) (chạy được rất nhanh) phải dịch thoát ý thành "chạy rất nhanh" hoặc "chạy nhanh lắm", vì tiếng Việt không có cấu trúc ngữ pháp riêng để "thêm phần bổ sung sau động từ" như 得 làm. MẸO PHÂN BIỆT 3 THÀNH PHẦN: định ngữ luôn ĐỨNG CẠNH 1 DANH TỪ (trả lời "cái gì"), trạng ngữ luôn đứng NGAY TRƯỚC 1 ĐỘNG TỪ/TÍNH TỪ (trả lời "làm thế nào" — trước khi làm), bổ ngữ luôn đứng NGAY SAU 1 ĐỘNG TỪ/TÍNH TỪ (trả lời "làm/là đến mức nào" — sau khi đã làm/đã là).

Tính từ & hình thức trùng điệp (AA/AABB/ABB) — 形容词重叠 HSK3

Tính từ ĐƠN ÂM TIẾT (1 chữ) lặp thành dạng AA (红→红红, 大→大大), tính từ SONG ÂM TIẾT (2 chữ) lặp thành AABB (高兴→高高兴兴) hoặc giữ nguyên dạng ABB với 1 âm tiết lặp 2 lần cuối (绿油油 - xanh mướt mượt). Tác dụng: tăng SẮC THÁI MIÊU TẢ sinh động, thân mật, đôi khi mang ý khen — khác hẳn chỉ nói tính từ trơn (红 = đỏ, còn 红红的 = đo đỏ/đỏ au, gợi hình ảnh cụ thể hơn). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây là ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG THÚ VỊ giữa 2 ngôn ngữ — tiếng Việt CŨNG có hiện tượng láy tính từ y hệt về CHỨC NĂNG: "đỏ" → "đo đỏ/đỏ đỏ", "sạch" → "sạch sành sanh/sạch sẽ", "vui" → "vui vui/vui vẻ". Cả 2 ngôn ngữ đều dùng láy để giảm nhẹ HOẶC tăng cường sắc thái miêu tả tuỳ ngữ cảnh, nên đây là 1 trong số ít điểm ngữ pháp người Việt học tiếng Trung thấy "quen thuộc" ngay từ đầu, không phải học khái niệm hoàn toàn mới, chỉ cần nắm QUY LUẬT LẶP (AA hay AABB tuỳ số âm tiết gốc). LƯU Ý VỀ CÁCH DÙNG: tính từ đã lặp thường KHÔNG cần thêm 很 (hěn, rất) phía trước nữa vì bản thân sự lặp đã mang sắc thái nhấn mạnh — nói "很红红的" (hěn hóng hóng de) là THỪA/sai, chỉ cần "红红的" (hóng hóng de). Khi làm trạng ngữ (đứng trước động từ), dạng lặp luôn cần thêm 地: "高高兴兴地说" (gāo gāo xìng xìng dì shuō) (nói một cách vui vẻ), không được bỏ 地.

Số từ: đếm, thứ tự, phân số, ước lượng — 数词概数 HSK3

Ngoài số đếm (一二三...) và số thứ tự (第一第二... — thêm 第 trước số đếm), tiếng Trung có hệ thống diễn đạt SỐ ƯỚC LƯỢNG (không chính xác) rất phong phú: 多 (duō, "hơn", đặt SAU số — 十多 = hơn mười), 左右 (zuǒyòu, "khoảng", đặt SAU cả cụm số+lượng từ — 两斤左右 = khoảng hai cân), 来 (lái, "chừng", đặt GIỮA số chục và số lẻ — 三十来个 = chừng ba mươi mấy cái), 差不多/大概 (chàbuduō/dàgài, "xấp xỉ/đại khái", đặt TRƯỚC cả cụm số). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt diễn đạt ước lượng chủ yếu bằng CÁC TỪ ĐỘC LẬP đặt trước số ("khoảng", "chừng", "gần", "hơn") — khá giống về Ý NGHĨA nhưng KHÁC về VỊ TRÍ: tiếng Việt "hơn" luôn đứng TRƯỚC số ("hơn mười"), trong khi tiếng Trung 多 lại đứng SAU ("十多" (shí duō) = mười-hơn). Đây là lỗi vị trí RẤT PHỔ BIẾN vì người học áp thói quen tiếng Việt, nói/viết nhầm thành "多十" (duō shí) (sai) thay vì "十多" (shí duō) (đúng). Phân số (X 分之 Y, đọc là "Y phần X" — LƯU Ý thứ tự đọc NGƯỢC với cách viết: 三分之一 = một phần ba, không phải ba phần một) là khái niệm số học tương đồng tiếng Việt về logic nhưng cách ĐỌC bị đảo ngược hoàn toàn, cần ghi nhớ máy móc. Riêng phân số ĐƠN GIẢN như 一半 (một nửa) thì dùng trực tiếp như 1 con số bình thường, không cần cấu trúc 分之.

▶ Học bài này (có audio + bài tập)