123tiengtrung.comNgữ pháp

Thứ Bảy tuần trước, trời rất đẹp, tôi… — Ngữ pháp tiếng Trung

Ngữ phápThứBảytuầntrướctự học tiếng Trung

Bài "Thứ Bảy tuần trước, trời rất đẹp, tôi và bạn thân…" giúp bạn luyện ngữ pháp qua bài đọc tiếng Trung qua tình huống thực tế. Ôn các điểm ngữ pháp: Triết lý trật tự từ: SOTV; Danh từ & Lượng từ; Phó từ: phủ định, tần suất, phạm vi, mức độ; Phân biệt bộ ba trợ từ kết cấu: 的 - 地 - 得; Trợ từ động thái hoàn thành: 了 le (hành động vs thay đổi trạng thái); Trợ từ động thái duy trì: 着 zhe và 14 điểm khác. Có đầy đủ phiên âm pinyin và nghĩa tiếng Việt, kèm từ vựng trích trong bài — phù hợp cho người tự học tiếng Trung.

上个星期六 天气很好, 我 和好朋友小美 一起 去公园玩 。 Shàng ge xīngqīliù tiānqì hěn hǎo, wǒ hé hǎo péngyou Xiǎoměi yìqǐ qù gōngyuán wán . Thứ Bảy tuần trước, trời rất đẹp, tôi và bạn thân Tiểu Mỹ cùng nhau đi công viên chơi .
我们八点就 出发了, 因为 想早点儿 到那儿 占一个 好位置 。 Wǒmen bā diǎn jiù chūfā le, yīnwèi xiǎng zǎo diǎnr dào nàr zhàn yí ge hǎo wèizhi . Chúng tôi tám giờ xuất phát rồi, vì muốn đến sớm đến đó chiếm một chỗ tốt .
路上 车不多, 我们 骑自行车 去, 只用了 二十分钟 。 Lùshang chē bù duō, wǒmen qí zìxíngchē qù, zhǐ yòng le èrshí fēnzhōng . Trên đường không đông xe, chúng tôi đạp xe đi, chỉ mất hai mươi phút .
公园里 坐着很多老人, 他们 一边聊天, 一边晒太阳 。 Gōngyuán li zuò zhe hěn duō lǎorén, tāmen yìbiān liáotiān, yìbiān shài tàiyáng . Trong công viên có rất nhiều cụ già đang ngồi, họ vừa trò chuyện, vừa tắm nắng .
我们 走着走着, 突然 看见 一个老同学 。 Wǒmen zǒu zhe zǒu zhe, tūrán kànjiàn yí ge lǎo tóngxué . Chúng tôi đang đi bộ thì bỗng nhiên nhìn thấy một người bạn học cũ .
他 叫王强, 是我高中 最好的朋友之一 。 Tā jiào Wáng Qiáng, shì wǒ gāozhōng zuì hǎo de péngyou zhī yī . Anh ấy tên Vương Cường, là một trong những người bạn thân nhất hồi cấp ba của tôi .
毕业以后, 他去了 外地工作, 我们就 很少联系了, 三年没见过面了 。 Bìyè yǐhòu, tā qù le wàidì gōngzuò, wǒmen jiù hěn shǎo liánxì le, sān nián méi jiàn guo miàn le . Sau khi tốt nghiệp, anh ấy chuyển đi làm ở một nơi khác, chúng tôi cũng ít liên lạc hẳn, đã ba năm không gặp lại nhau .
他 跟以前比,胖了很多, 我 几乎 认不出来了 。 Tā gēn yǐqián bǐ, pàng le hěn duō, wǒ jīhū rèn bu chūlái le . Anh ấy so với trước kia mập lên nhiều, tôi gần như không nhận ra .
我们 高兴地 聊了很久, 慢慢地走到了 公园旁边的 一家小饭馆 。 Wǒmen gāoxìng de liáo le hěn jiǔ, mànmàn de zǒu dào le gōngyuán pángbiān de yì jiā xiǎo fànguǎn . Chúng tôi vui vẻ trò chuyện rất lâu, rồi từ từ đi tới một quán ăn nhỏ bên cạnh công viên .
菜单上 写着 好几种面条, 我们 商量了半天 才决定 。 Càidān shang xiě zhe hǎojǐ zhǒng miàntiáo, wǒmen shāngliang le bàntiān cái juédìng . Trên thực đơn có ghi mấy loại mì, chúng tôi bàn bạc mất cả buổi mới quyết định được .
这家饭馆的 牛肉面 比隔壁那家的好吃多了 。 Zhè jiā fànguǎn de niúròumiàn bǐ gébì nà jiā de hǎochī duō le . Mì bò của quán này ngon hơn quán bên cạnh nhiều .
老板 笑着说, 这是 他们店里 最有名的 招牌菜 。 Lǎobǎn xiào zhe shuō, zhè shì tāmen diàn li zuì yǒumíng de zhāopáicài . Ông chủ vừa cười vừa nói, đây là món đặc trưng nổi tiếng nhất của quán họ .
服务员 很热情, 我们 进去点了 两碗面 。 Fúwùyuán hěn rèqíng, wǒmen jìnqù diǎn le liǎng wǎn miàn . Nhân viên phục vụ rất nhiệt tình, chúng tôi vào gọi hai bát mì .
他说 这家店的位置 不太好找, 很多人都 找不到 。 Tā shuō zhè jiā diàn de wèizhi bú tài hǎo zhǎo, hěn duō rén dōu zhǎo bu dào . Anh ấy nói quán này hơi khó tìm, nhiều người tìm mãi không ra .
吃饭的时候, 我们 聊起了 小时候的事情, 聊得很开心 。 Chīfàn de shíhou, wǒmen liáo qǐ le xiǎoshíhou de shìqing, liáo de hěn kāixīn . Vừa ăn chúng tôi vừa nhắc lại chuyện hồi nhỏ, nói chuyện vui ơi là vui .
这次见面 不是 我们 提前约好的, 是路上偶然遇到的 。 Zhè cì jiànmiàn bú shì wǒmen tíqián yuē hǎo de, shì lùshang ǒurán yùdào de . Lần gặp này không phải chúng tôi hẹn trước, mà là tình cờ chạm mặt nhau trên đường .
这顿饭 不但 便宜, 而且 味道好极了 。 Zhè dùn fàn búdàn piányi, érqiě wèidào hǎo jí le . Bữa này không những rẻ, mà còn ngon tuyệt cú mèo .
虽然 只是 简单的一顿饭, 但是 我们都 觉得很难忘 。 Suīrán zhǐshì jiǎndān de yí dùn fàn, dànshì wǒmen dōu juéde hěn nánwàng . Tuy chỉ là một bữa cơm đơn giản, nhưng cả hai đứa đều thấy khó quên .
因为 聊得太投入, 所以 我们都 没注意到 已经很晚了 。 Yīnwèi liáo de tài tóurù, suǒyǐ wǒmen dōu méi zhùyì dào yǐjīng hěn wǎn le . Vì mải nói chuyện quá, nên chẳng ai để ý trời đã khuya lắm rồi .
回家的路上, 我 一直在想 。 Huí jiā de lùshang, wǒ yìzhí zài xiǎng . Trên đường về, tôi cứ suy nghĩ mãi .
如果不是 那次 意外的相遇, 我们可能 就 再也 见不到面了 。 Rúguǒ bú shì nà cì yìwài de xiāngyù, wǒmen kěnéng jiù zài yě jiàn bu dào miàn le . Nếu không có cuộc gặp bất ngờ hôm đó, có lẽ chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa .
我们约好 以后要 常常 联系, 别再 像这几年一样 断了消息 。 Wǒmen yuē hǎo yǐhòu yào chángcháng liánxì, bié zài xiàng zhè jǐ nián yíyàng duàn le xiāoxi . Chúng tôi hẹn nhau từ nay phải thường xuyên liên lạc, đừng để mất tin nhau như mấy năm nay nữa .
我 笑着走进了地铁站, 心里觉得 这个星期六 过得 特别有意义 。 Wǒ xiào zhe zǒu jìn le dìtiě zhàn, xīnli juéde zhège xīngqīliù guò de tèbié yǒu yìyì . Tôi mỉm cười bước vào ga tàu điện ngầm, trong lòng thấy thứ Bảy này trôi qua thật đáng nhớ .

Từ vựng trong bài

  • 上HSK1
    shàngtrên; lên
  • 个HSK1
    gècái; (lượng từ chung)
  • 星期HSK1
    xīng qītuần; thứ (trong tuần)
  • 六HSK1
    liùsáu
  • 天气HSK1
    tiān qìthời tiết
  • 很HSK1
    hěnrất
  • 好HSK1
    hǎotốt; giỏi; khoẻ
  • 我HSK1
    wǒtôi
  • 和HSK1
    hévà; cùng với
  • 朋友HSK1
    péng youbạn bè
  • 小HSK1
    xiǎonhỏ
  • 一HSK1
    yīmột
  • 去HSK1
    qùđi
  • 玩HSK1
    wánchơi
  • 我们HSK1
    wǒ menchúng tôi; chúng ta
  • 八HSK1
    bātám
  • 点HSK1
    diǎnđiểm; giờ; chút
  • 了HSK1
    le(trợ từ chỉ hành động đã hoàn thành)
  • 想HSK1
    xiǎngnghĩ; muốn; nhớ
  • 早HSK1
    zǎosớm
  • 到HSK1
    dàođến
  • 那儿HSK1
    nàrở đó
  • 车HSK1
    chēxe
  • 不HSK1
    bùkhông
  • 多HSK1
    duōnhiều
  • 只HSK1
    zhīcon (lượng từ)
  • 二HSK1
    èrhai
  • 十HSK1
    shímười
  • 分钟HSK1
    fēn zhōngphút
  • 里HSK1
    lǐtrong; bên trong
  • 坐HSK1
    zuòngồi
  • 人HSK1
    rénngười
  • 他们HSK1
    tāmenhọ
  • 边HSK1
    biānbên (hậu tố)
  • 天HSK1
    tiānngày
  • 太HSK1
    tàiquá; rất
  • 看见HSK1
    kàn jiànnhìn thấy
  • 同学HSK1
    tóng xuébạn học
  • 他HSK1
    tāanh ấy; ông ấy; nó (nam)
  • 叫HSK1
    jiàogọi; tên là
  • 是HSK1
    shìlà
  • 的HSK1
    decủa (trợ từ sở hữu)
  • 后HSK1
    hòusau
  • 外HSK1
    wàingoài
  • 工作HSK1
    gōng zuòcông việc; làm việc
  • 少HSK1
    shǎoít
  • 三HSK1
    sānba
  • 年HSK1
    niánnăm
  • 没HSK1
    méikhông có; chưa
  • 见HSK1
    jiàngặp, thấy
  • 前HSK1
    qiántrước
  • 几HSK1
    jǐmấy; bao nhiêu
  • 来HSK1
    láiđến; tới
  • 高兴HSK1
    gāo xìngvui; vui vẻ
  • 家HSK1
    jiānhà; gia đình
  • 饭馆HSK1
    fàn guǎnnhà hàng; quán ăn
  • 菜HSK1
    càimón ăn; rau
  • 写HSK1
    xiěviết
  • 半HSK1
    bànnửa
  • 这HSK1
    zhènày; đây
  • 那HSK1
    nàđó; kia
  • 好吃HSK1
    hǎochīngon
  • 说HSK1
    shuōnói
  • 店HSK1
    diàncửa hàng
  • 有HSK1
    yǒucó
  • 热HSK1
    rènóng
  • 两HSK1
    liǎnghai (số lượng)
  • 找HSK1
    zhǎotìm
  • 都HSK1
    dōuđều; tất cả
  • 吃HSK1
    chīăn
  • 饭HSK1
    fàncơm
  • 时候HSK1
    shí houlúc; thời gian; khi
  • 小时HSK1
    xiǎoshígiờ (khoảng thời gian)
  • 事HSK1
    shìviệc, chuyện
  • 开HSK1
    kāimở; bật; lái (xe)
  • 便宜HSK1
    piányirẻ
  • 觉得HSK1
    juédecảm thấy, nghĩ rằng
  • 晚HSK1
    wǎnmuộn
  • 回HSK1
    huívề; quay lại; lần
  • 在HSK1
    zàiở; đang (chỉ hành động đang diễn ra)
  • 能HSK1
    néngcó thể; có khả năng
  • 再HSK1
    zàilại, rồi hãy
  • 也HSK1
    yěcũng
  • 要HSK1
    yàomuốn, cần
  • 这个HSK1
    zhègecái này

Ghi chú ngữ pháp

Danh từ & Lượng từ — 名量词 HSK1

Quy tắc bắt buộc: khi ĐẾM danh từ (số từ + danh từ), tiếng Trung LUÔN cần 1 LƯỢNG TỪ (量词) đứng CHEN GIỮA số từ và danh từ — không thể nói thẳng "一书" (yì shū) (một sách) mà phải nói "一本书" (yì běn shū) (một-CUỐN-sách). Mỗi nhóm danh từ có lượng từ CHUYÊN RIÊNG theo hình dáng/tính chất của vật: 本 (běn, cho sách/vở — vật dẹt có nhiều trang), 个 (gè, TRUNG TÍNH dùng khi không chắc dùng lượng từ nào), 只 (zhī, cho động vật/1 bên cơ thể), 件 (jiàn, cho áo/việc), 张 (zhāng, cho vật phẳng như bàn/giấy/vé), 条 (tiáo, cho vật dài như cá/đường/quần)... SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây LÀ khái niệm tiếng Việt CÓ SẴN và khá tương đồng — "một CUỐN sách", "một CON mèo", "một CHIẾC áo" — tiếng Việt cũng có hệ thống loại từ/lượng từ đi trước danh từ! Vì vậy về mặt CẤU TRÚC, người Việt học lượng từ tiếng Trung dễ hơn người phương Tây rất nhiều — chỉ cần học "từ vựng" của lượng từ nào đi với danh từ nào, không cần học khái niệm mới. Tuy nhiên PHÉP ÁNH XẠ không phải lúc nào cũng 1-1: "一张桌子" (yì zhāng zhuō zi) (một cái bàn, dùng 张 vì mặt bàn phẳng) trong khi tiếng Việt dùng "cái" chung chung; "一条鱼" (yì tiáo yú) (một con cá, dùng 条 vì thân dài) trong khi tiếng Việt dùng "con" giống các động vật khác — nên KHÔNG thể suy luận máy móc từ loại từ tiếng Việt sang lượng từ tiếng Trung, phải học riêng từng cặp. LƯU Ý THÊM: danh từ chỉ THỜI GIAN (今天, 明天...) và NƠI CHỐN (这里, 那里...) có vị trí đặc biệt trong câu — luôn đứng TRƯỚC động từ (xem thêm điểm "Triết lý trật tự từ: SOTV"), khác hẳn thói quen tiếng Việt hay đặt ở cuối câu.

Trợ từ động thái hoàn thành: 了 le (hành động vs thay đổi trạng thái) — 了 HSK1

了 có 2 cách dùng khác hẳn nhau dù cùng 1 chữ: (1) 了 SAU ĐỘNG TỪ báo hành động ĐÃ HOÀN THÀNH ("我吃了饭" (wǒ chī le fàn) - tôi đã ăn cơm [xong bữa]); (2) 了 ở CUỐI CÂU báo TÌNH HUỐNG/TRẠNG THÁI VỪA THAY ĐỔI so với trước đó ("天冷了" (tiān lěng le) - trời lạnh RỒI [trước đó không lạnh, giờ đã lạnh] — không phải "trời đã lạnh" theo nghĩa hoàn thành hành động). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt dùng "đã/rồi" để diễn tả THÌ QUÁ KHỨ, khiến người học mặc định 了 = "đã", nhưng thực ra 了 KHÔNG PHẢI dấu hiệu thì quá khứ theo nghĩa tiếng Anh/Việt — nó là trợ từ ĐỘNG THÁI đánh dấu SỰ HOÀN THÀNH hoặc SỰ THAY ĐỔI, không gắn chặt với "quá khứ". Bằng chứng: câu tương lai vẫn dùng được 了 ("明天我吃了饭就走" (míng tiān wǒ chī le fàn jiù zǒu) - mai tôi ăn xong cơm là đi) khi diễn tả 1 hành động HOÀN THÀNH TRƯỚC 1 hành động khác, dù đó là chuyện tương lai chứ không phải quá khứ. LỖI HAY GẶP: dùng 了 cho MỌI câu có ý "đã" trong đầu (theo phản xạ dịch từ tiếng Việt), kể cả khi động từ đó không diễn tả hành động có ĐIỂM KẾT THÚC rõ ràng (vd động từ trạng thái như 是/有/在 thường KHÔNG cần 了 phía sau trong câu miêu tả trạng thái đơn thuần). Ngược lại, cũng hay QUÊN 了 cuối câu khi cần báo hiệu 1 sự thay đổi trạng thái mới xảy ra, vì tiếng Việt không có dấu hiệu ngữ pháp bắt buộc tương ứng ở vị trí cuối câu.

Phân biệt bộ ba trợ từ kết cấu: 的 - 地 - 得 — 的地得 HSK2

Bộ ba trợ từ ĐỌC GIỐNG HỆT NHAU (đều là "de") nhưng CHỨC NĂNG hoàn toàn khác nhau, phân biệt bằng chữ Hán viết: 的 nối ĐỊNH NGỮ với DANH TỪ ("小明的书" (xiǎo míng de shū) - sách của Tiểu Minh; "漂亮的花" (piào liang de huā) - hoa đẹp), 地 nối TRẠNG NGỮ với ĐỘNG TỪ ("慢慢地走" (màn màn dì zǒu) - đi từ từ), 得 nối ĐỘNG TỪ/TÍNH TỪ với BỔ NGỮ TRÌNH ĐỘ ("跑得快" (pǎo dé kuài) - chạy nhanh, "高兴得跳起来" (gāo xìng dé tiào qǐ lái) - vui đến mức nhảy lên). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây là 1 trong những rào cản LỚN NHẤT cho người Việt, vì tiếng Việt CHỈ CÓ 1 CƠ CHẾ để nối bổ nghĩa (thường không cần từ nối riêng, hoặc dùng "của"/không dùng gì cả tuỳ trường hợp — không có 3 "công cụ ngữ pháp" tách biệt như 的/地/得). Người mới học hay dùng 的 cho MỌI trường hợp vì đó là chữ quen mặt nhất, dẫn đến lỗi như viết "慢慢的走" (màn màn de zǒu) (sai, phải là 地) hoặc "跑的快" (pǎo de kuài) (sai, phải là 得). MẸO PHÂN BIỆT NHANH: nhìn vào từ loại đứng SAU — nếu sau là DANH TỪ thì chắc chắn 的; nếu ĐỨNG TRƯỚC động từ/tính từ (vai trò trạng ngữ, trả lời "làm thế nào") thì dùng 地; nếu ĐỨNG SAU động từ/tính từ (vai trò bổ ngữ, trả lời "đến mức nào/kết quả ra sao") thì dùng 得. Trong khẩu ngữ hiện đại, nhiều người bản xứ cũng viết lẫn 的/地 (vì phát âm giống hệt), nhưng 得 luôn phải phân biệt rõ vì vị trí SAU động từ là dấu hiệu ngữ pháp không thể nhầm.

Trợ từ động thái duy trì: 着 zhe — 着 HSK2

着 gắn NGAY SAU động từ để diễn tả 1 TRẠNG THÁI đang được DUY TRÌ tại thời điểm nói/kể — không phải hành động đang xảy ra (khác 正在 dùng cho hành động ĐANG TIẾN TRIỂN). Ví dụ: "门开着" (mén kāi zhe) (cửa đang MỞ — trạng thái tĩnh, cửa đã mở và giữ nguyên trạng thái đó), "他坐着看书" (tā zuò zhe kàn shū) (anh ấy NGỒI [duy trì tư thế ngồi] xem sách — 着 mô tả TƯ THẾ nền cho hành động xem sách diễn ra). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt diễn tả trạng thái duy trì bằng cách khác hẳn — hoặc dùng "đang" (nhưng "đang" tiếng Việt lại thiên về HÀNH ĐỘNG tiến triển hơn là trạng thái tĩnh), hoặc đơn giản chỉ nói động từ trơn kèm ngữ cảnh ("cửa mở", không cần trợ từ). Vì tiếng Việt KHÔNG có trợ từ ngữ pháp riêng cho khái niệm "trạng thái tĩnh đang duy trì", người học thường BỎ SÓT 着 hoàn toàn khi nói tiếng Trung, hoặc nhầm lẫn dùng 正在/在 (dành cho hành động tiến triển) thay vì 着. PHÂN BIỆT VỚI 了: 了 nhấn vào HOÀN THÀNH (đã xảy ra xong), 着 nhấn vào TRẠNG THÁI ĐANG TIẾP DIỄN (chưa kết thúc, đang giữ nguyên) — "他站了" (tā zhàn le) (anh ấy đã đứng [dậy] — hành động đứng lên vừa hoàn tất) khác hẳn "他站着" (tā zhàn zhe) (anh ấy ĐANG ĐỨNG — trạng thái đứng đang được duy trì, có thể đã đứng từ lâu).

Trợ từ động thái trải nghiệm: 过 guo — 过 HSK2

过 gắn SAU động từ để nói đã TỪNG làm việc gì đó trong QUÁ KHỨ (trải nghiệm), KHÔNG quan trọng chính xác khi nào, chỉ nhấn mạnh "đã CÓ trải nghiệm này rồi". Ví dụ: "我去过北京" (wǒ qù guò běi jīng) (Tôi đã TỪNG đi Bắc Kinh — nhấn vào việc CÓ trải nghiệm đó, có thể là 1 năm trước hay 10 năm trước cũng không quan trọng). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt CÓ cấu trúc tương đồng khá rõ — "đã từng" ("Tôi đã từng đi Bắc Kinh") — nên về mặt Ý NGHĨA, 过 không quá xa lạ với người Việt. Cái cần lưu ý là PHÂN BIỆT 过 với 了: 了 chỉ nói ĐÃ HOÀN THÀNH 1 hành động cụ thể (không nhấn "từng"), còn 过 nhấn mạnh khía cạnh TRẢI NGHIỆM/KINH NGHIỆM. So sánh "我去了北京" (wǒ qù le běi jīng) (tôi đã đi Bắc Kinh — có thể đang ở đó hoặc vừa từ đó về, là 1 sự kiện cụ thể) với "我去过北京" (wǒ qù guò běi jīng) (tôi đã TỪNG đi Bắc Kinh — nói về trải nghiệm đã có, không quan tâm hiện tại đang ở đâu) — 2 câu mang hàm ý khác nhau dù cùng dịch "tôi đã đi Bắc Kinh" sang tiếng Việt nếu không để ý kỹ. DẠNG PHỦ ĐỊNH: dùng 没(有)...过 ("我没去过北京" (wǒ méi qù guò běi jīng) - tôi chưa từng đi Bắc Kinh), KHÔNG dùng 不 để phủ định 过 — đây là lỗi hay gặp vì người học quen phản xạ 不 = "không" áp dụng chung cho mọi trường hợp phủ định.

Triết lý trật tự từ: SOTV — 主谓宾语序 HSK2

Tiếng Trung theo trật tự CỐ ĐỊNH: Chủ ngữ - (Thời gian) - (Địa điểm) - (Phương thức) - Động từ - Tân ngữ (viết tắt SOTV, lấy theo thứ tự Subject - Others - Verb). Nguyên tắc bao trùm: MỌI trạng ngữ (chỉ thời gian, nơi chốn, cách thức, đối tượng...) đều đứng TRƯỚC động từ chính, không có ngoại lệ tuỳ tiện như tiếng Việt. SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: Tiếng Việt rất linh hoạt — "Tôi đi học ở trường vào buổi sáng" đặt thời gian/nơi chốn ở CUỐI câu, sau động từ, nghe vẫn tự nhiên. Tiếng Trung thì bắt buộc "我早上在学校上课" (wǒ zǎo shàng zài xué xiào shàng kè) (Tôi buổi-sáng ở trường học) — 早上 (buổi sáng) và 在学校 (ở trường) phải đứng TRƯỚC 上课 (đi học). Đây là khác biệt gây lỗi nhiều NHẤT cho người Việt mới học, vì bản năng dịch từng từ một theo thứ tự tiếng Việt sẽ luôn sai trật tự tiếng Trung. MẸO GHI NHỚ: hình dung câu tiếng Trung như một "hành trình" — trước khi nói ĐANG LÀM GÌ (động từ), phải khai báo xong KHI NÀO, Ở ĐÂU, LÀM THẾ NÀO. Khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Trung, luôn tự hỏi: "trong câu Việt, các cụm chỉ thời gian/nơi chốn/cách thức đang đứng ở đâu?" rồi CHỦ ĐỘNG dời chúng lên trước động từ. NGOẠI LỆ CẦN BIẾT: trạng ngữ chỉ THỜI GIAN (không phải nơi chốn) có thể đứng NGAY ĐẦU CÂU, trước cả chủ ngữ, để nhấn mạnh — ví dụ "昨天我去了公园" (zuó tiān wǒ qù le gōng yuán) hoặc "我昨天去了公园" (wǒ zuó tiān qù le gōng yuán) đều đúng, nhưng "我去了公园昨天" (wǒ qù le gōng yuán zuó tiān) thì SAI tuyệt đối.

Phó từ: phủ định, tần suất, phạm vi, mức độ — 副词 HSK2

Phó từ tiếng Trung chia thành 4 nhóm chức năng, LUÔN đứng TRƯỚC động từ/tính từ mà nó bổ nghĩa: (1) PHỦ ĐỊNH — 不 (bù, phủ định Ý MUỐN/THÓI QUEN/TƯƠNG LAI: "我不去" (wǒ bú qù) tôi không đi — chưa xảy ra hoặc theo ý chí) khác 没(有) (méi(yǒu), phủ định VIỆC ĐÃ XẢY RA: "我没去" (wǒ méi qù) tôi đã không đi — nói về quá khứ); (2) TẦN SUẤT — 还 (hái, còn/vẫn), 再 (zài, LẶP LẠI trong TƯƠNG LAI — "再来一次" (zài lái yí cì) làm lại lần nữa), 又 (yòu, LẶP LẠI việc ĐÃ XẢY RA trong QUÁ KHỨ — "他又迟到了" (tā yòu chí dào le) anh ấy lại trễ nữa rồi), 常常 (chángcháng, thường xuyên, đều đặn); (3) PHẠM VI — 都 (dōu, tất cả/đều), 只 (zhǐ, chỉ/vỏn vẹn); (4) MỨC ĐỘ — 很 (hěn, rất), 太 (tài, quá), 非常 (fēicháng, cực kỳ). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: về Ý NGHĨA từng phó từ khá dễ ánh xạ sang tiếng Việt, nhưng cặp 又/再 là lỗi KINH ĐIỂN nhất — tiếng Việt chỉ có 1 từ "lại" dùng chung cho cả 2 tình huống ("lại đến" có thể chỉ tương lai lẫn quá khứ tuỳ ngữ cảnh câu), trong khi tiếng Trung BẮT BUỘC phân biệt: việc ĐÃ XẢY RA dùng 又 ("他昨天又来了" (tā zuó tiān yòu lái le) - hôm qua anh ấy lại đến), việc SẼ XẢY RA dùng 再 ("明天再来" (míng tiān zài lái) - mai đến lại đi). Chọn sai gần như luôn bị người bản xứ nhận ra ngay. Tương tự, 不 và 没(有) đều dịch là "không" trong tiếng Việt nhưng tiếng Việt không phân biệt bắt buộc theo THÌ như tiếng Trung — cần luyện phản xạ: nói về TƯƠNG LAI/Ý CHÍ dùng 不, nói về QUÁ KHỨ/SỰ VIỆC ĐÃ RỒI dùng 没(有).

So sánh hơn: Câu chữ 比 bǐ — 比字句 HSK2

Cấu trúc: A 比 (bǐ) B (+ mức độ cụ thể) + Tính từ = A HƠN B (về mặt tính từ đó). Có thể thêm SỐ LƯỢNG CỤ THỂ ("大三岁" (dà sān suì) - lớn hơn 3 tuổi) hoặc trạng từ mức độ mơ hồ như 一点 (yìdiǎn, hơn 1 chút) / 得多 (de duō, hơn nhiều) để nói RÕ CHÊNH LỆCH bao nhiêu. SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây là cấu trúc GẦN GŨI với tiếng Việt nhất trong số các phép so sánh — "A HƠN B" cũng đặt đối tượng so sánh NGAY SAU "hơn" tương tự tiếng Trung đặt B ngay sau 比. Khác biệt nhỏ nằm ở VỊ TRÍ tính từ: tiếng Việt "A hơn B [về] cao" ít tự nhiên bằng "A cao hơn B" (tính từ có thể đứng cả trước lẫn sau "hơn" tuỳ cách diễn đạt), trong khi tiếng Trung BẮT BUỘC tính từ luôn đứng SAU B, không có lựa chọn khác: "A 比 B 高" (A bǐ B gāo) (không nói "A 高比 B" (A gāo bǐ B)). LỖI HAY GẶP: câu có 比 thì TUYỆT ĐỐI KHÔNG dùng thêm 很/非常 (rất/cực kỳ) trước tính từ — vì bản thân 比 đã mang tính so sánh, thêm "rất" vào sẽ THỪA/SAI ngữ pháp ("他比我很高" (tā bǐ wǒ hěn gāo) là câu SAI, phải nói "他比我高" (tā bǐ wǒ gāo) hoặc "他比我高很多" (tā bǐ wǒ gāo hěn duō)). Đây là lỗi RẤT PHỔ BIẾN vì tiếng Việt "hơn tôi rất cao" nghe vẫn xuôi tai nên người học dễ áp dụng sai sang tiếng Trung.

Quan hệ nguyên nhân - kết quả: 因为……所以…… yīnwèi...suǒyǐ... / 既然……就…… jìrán...jiù... — 因为所以 HSK2

2 cách diễn đạt NGUYÊN NHÂN - KẾT QUẢ: 因为……所以…… (yīnwèi...suǒyǐ...) cho quan hệ nhân quả THÔNG THƯỜNG ("因为下雨,所以我们没出门" (yīn wèi xià yǔ , suǒ yǐ wǒ men méi chū mén) - Vì trời mưa nên chúng tôi không ra ngoài); 既然……就…… (jìrán...jiù...) mang nghĩa "ĐÃ NHƯ VẬY THÌ" — dựa trên 1 THỰC TẾ ĐÃ BIẾT/ĐÃ XÁC NHẬN để SUY RA hành động tiếp theo, khác với 因为 chỉ đơn thuần nêu lý do khách quan ("既然你已经决定了,就好好去做吧" (jì rán nǐ yǐ jīng jué dìng le , jiù hǎo hǎo qù zuò ba) - Đã quyết định rồi thì cứ làm cho tốt đi). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: "vì... nên..." tương đương gần như hoàn hảo với 因为...所以..., không phải điểm khó. 既然...就... khó hơn vì tiếng Việt không có 1 cặp liên từ CỐ ĐỊNH tương ứng — phải dịch thoát ý bằng "đã... thì..." hoặc "vì đã... nên..." tuỳ ngữ cảnh, và SẮC THÁI của 既然 luôn hàm ý điều kiện đó là THỰC TẾ HIỂN NHIÊN cả 2 bên đều đã biết, không phải thông tin mới cần giải thích (khác 因为 có thể dùng để giải thích lý do CHƯA AI BIẾT). LƯU Ý: trong khẩu ngữ, 因为 và 所以 ĐÔI KHI chỉ cần dùng 1 TRONG 2 (không bắt buộc cả cặp) nếu ngữ cảnh đã đủ rõ ("我没去,因为下雨" (wǒ méi qù , yīn wèi xià yǔ) hoặc "下雨了,所以我没去" (xià yǔ le , suǒ yǐ wǒ méi qù) đều chấp nhận được), khác với 既然...就... hầu như luôn cần đủ cả cặp để rõ nghĩa.

Bổ ngữ trình độ/trạng thái: Động từ + 得 de + Tính từ — 程度补语 HSK3

Cấu trúc Động từ/Tính từ + 得 (de) + Tính từ/Cụm miêu tả để nói MỨC ĐỘ/TRẠNG THÁI của hành động: "跑得很快" (pǎo dé hěn kuài) (chạy [đến mức] rất nhanh), "高兴得跳起来" (gāo xìng dé tiào qǐ lái) (vui [đến mức] nhảy cẫng lên), "说得很有礼貌" (shuō dé hěn yǒu lǐ mào) (nói [một cách] rất lịch sự). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây là khái niệm ngữ pháp tiếng Việt HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ cấu trúc riêng tương ứng — tiếng Việt không có "công cụ ngữ pháp" nào giống 得 để "gắn thêm phần miêu tả mức độ sau động từ" theo kiểu bắt buộc như vậy, mà chỉ diễn đạt bằng cách GHÉP TỰ NHIÊN tính từ ngay sau động từ hoặc dùng trạng từ ("chạy rất nhanh", "nói lịch sự") — không có từ nối bắt buộc. Vì vậy người Việt học 得 phải học nó như 1 CẤU TRÚC NGỮ PHÁP HOÀN TOÀN MỚI, không thể dựa vào trực giác tiếng mẹ đẻ. PHÂN BIỆT VỚI 地 (cùng đọc "de" nhưng khác chữ và khác vị trí): 地 đặt TRƯỚC động từ (trạng ngữ, miêu tả CÁCH THỰC HIỆN trước khi hành động xảy ra — "慢慢地走" (màn màn dì zǒu) đi một cách từ từ), còn 得 đặt SAU động từ (bổ ngữ, miêu tả KẾT QUẢ/MỨC ĐỘ sau khi hành động đã xảy ra — "走得很慢" (zǒu dé hěn màn) đi [và kết quả là] rất chậm) — 2 câu tuy dịch gần giống nhau sang tiếng Việt nhưng SẮC THÁI khác nhau: 地 tập trung vào CÁCH LÀM, 得 tập trung vào KẾT QUẢ QUAN SÁT ĐƯỢC.

Bổ ngữ xu hướng (đơn & phức): 来 lái, 去 qù, 起来 qǐlai, 出来 chūlai, 下去 xiàqu, 过来 guòlai, 进去 jìnqu — 趋向补语 HSK3

Bổ ngữ xu hướng gắn SAU động từ để chỉ HƯỚNG DI CHUYỂN của hành động SO VỚI NGƯỜI NÓI: dạng ĐƠN (来 lái - hướng VỀ người nói, 去 qù - hướng RA XA người nói) và dạng PHỨC (kết hợp động từ xu hướng gốc + 来/去: 起来 qǐlai - từ dưới lên trên/bắt đầu, 出来 chūlai - từ trong ra ngoài + về phía người nói, 下去 xiàqu - từ trên xuống dưới + ra xa người nói, 过来 guòlai - từ xa lại gần, 进去 jìnqu - từ ngoài vào trong + ra xa người nói). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt CŨNG có các từ chỉ hướng gắn sau động từ khá tương đồng về mặt Ý NGHĨA ("đi RA", "chạy VÀO", "đứng DẬY", "ngồi XUỐNG") — không xa lạ về khái niệm. Cái phức tạp hơn hẳn tiếng Việt là hệ thống PHỨC (kết hợp 2 lớp: hướng cơ bản 上/下/进/出/回/过/起 + 来/去 để chỉ thêm QUAN HỆ VỚI NGƯỜI NÓI) — tiếng Việt không có lớp thứ 2 này một cách hệ thống, khiến câu tiếng Trung có thể phân biệt "走进来" (zǒu jìn lái) (đi VÀO, hướng VỀ người nói — người nói đang ở TRONG) và "走进去" (zǒu jìn qù) (đi VÀO, hướng RA XA người nói — người nói đang ở NGOÀI) trong khi tiếng Việt chỉ có 1 cách nói chung "đi vào" cho cả 2 tình huống. Ý NGHĨA MỞ RỘNG (phi không gian): nhiều bổ ngữ xu hướng phức còn mang nghĩa TRỪU TƯỢNG không liên quan chuyển động vật lý — 起来 có thể chỉ sự BẮT ĐẦU ("笑起来" (xiào qǐ lái) - bật cười lên), 下去 có thể chỉ sự TIẾP TỤC ("说下去" (shuō xià qù) - nói tiếp đi) — đây là lớp nghĩa cần học THUỘC LÒNG riêng từng trường hợp, không suy luận được từ nghĩa gốc chỉ hướng.

Bổ ngữ kết quả: 见 jiàn, 到 dào, 完 wán, 好 hǎo, 错 cuò, 对 duì, 懂 dǒng, 成 chéng — 结果补语 HSK3

Bổ ngữ kết quả gắn NGAY sau động từ (không có 得 ở giữa) để nêu KẾT QUẢ cụ thể của hành động: 见 jiàn (cảm nhận được — 看见 nhìn thấy, 听见 nghe thấy), 到 dào (đạt tới/đạt được — 找到 tìm thấy, 听到 nghe được), 完 wán (xong/hết — 吃完 ăn xong, 看完 xem xong), 好 hǎo (hoàn thiện/ổn thoả — 准备好 chuẩn bị xong), 错 cuò (sai — 说错 nói sai, 写错 viết sai), 对 duì (đúng — 猜对 đoán đúng), 懂 dǒng (hiểu — 听懂 nghe hiểu), 成 chéng (thành — 翻译成 dịch thành). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: đây là kiểu cấu trúc "Động từ + Kết quả" mà tiếng Việt DIỄN ĐẠT KHÁ TƯƠNG ĐỒNG bằng các cụm động từ ghép ("nhìn THẤY", "ăn XONG", "nói SAI", "nghe HIỂU") — nên về mặt logic ngữ nghĩa, không quá xa lạ. Khác biệt nằm ở chỗ tiếng Trung GẮN LIỀN 2 động từ/tính từ thành 1 CỤM CỐ ĐỊNH không tách rời (không thể chen từ khác vào giữa 看 và 见), trong khi tiếng Việt "nhìn thấy" tuy cũng ghép nhưng có thể tách linh hoạt hơn trong 1 số trường hợp. LỖI HAY GẶP: quên KHÔNG THÊM bổ ngữ kết quả khi cần thiết, chỉ nói động từ trơn — ví dụ nói "我看" (wǒ kàn) (tôi nhìn) khi thực ra ý muốn diễn đạt "tôi NHÌN THẤY" (phải nói 我看见/看到) — thiếu bổ ngữ kết quả khiến câu chỉ còn nghĩa "đang thực hiện hành động" chứ không khẳng định hành động đã ĐẠT KẾT QUẢ.

Bổ ngữ số lượng & thời gian — 数量时量补语 HSK3

2 loại bổ ngữ đứng SAU động từ để bổ sung thông tin định lượng: Bổ ngữ SỐ LƯỢNG (nói TẦN SUẤT hành động lặp lại — "去了两次" (qù le liǎng cì) đã đi HAI LẦN, dùng lượng từ động tác như 次/遍/趟) và Bổ ngữ THỜI LƯỢNG (nói KHOẢNG THỜI GIAN hành động kéo dài — "学了三年" (xué le sān nián) đã học BA NĂM, dùng đơn vị thời gian như 年/月/天/小时). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: về Ý NGHĨA, tiếng Việt diễn đạt tương tự bằng cách đặt cụm chỉ số lần/thời lượng SAU động từ ("đi hai lần", "học ba năm") — khá tương đồng vị trí với tiếng Trung nên đây KHÔNG phải điểm khó lớn. Cái cần lưu ý là khi CÓ TÂN NGỮ đi kèm, trật tự tiếng Trung khác tiếng Việt: "学中文学了三年" (xué zhōng wén xué le sān nián) hoặc "学了三年中文" (xué le sān nián zhōng wén) (học tiếng Trung BA NĂM) — bổ ngữ thời lượng chen vào GIỮA động từ và tân ngữ (hoặc động từ lặp lại 1 lần), khác tiếng Việt chỉ cần nối thẳng "học tiếng Trung ba năm" theo 1 trật tự tuyến tính đơn giản. LƯU Ý: nếu tân ngữ là ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG (tôi/anh ấy...), bổ ngữ thời lượng/số lượng PHẢI đứng SAU đại từ đó, không được tách động từ ra: "我等了他三个小时" (wǒ děng le tā sān gè xiǎo shí) (tôi đợi anh ấy ba tiếng đồng hồ), không nói "我等三个小时他" (wǒ děng sān gè xiǎo shí tā).

Câu nhấn mạnh: cấu trúc 是……的 shì...de — 是的强调句 HSK3

Cấu trúc 是……的 (shì...de) dùng để NHẤN MẠNH thời gian/địa điểm/phương thức/chủ thể của 1 hành động ĐÃ XẢY RA — người nghe ĐÃ BIẾT sự việc chính, câu này chỉ hỏi/nhấn thêm CHI TIẾT cụ thể. Ví dụ: "你是什么时候来的?" (nǐ shì shén me shí hòu lái de ?) (Bạn ĐẾN vào LÚC NÀO vậy? — biết bạn đã đến rồi, chỉ hỏi rõ thời điểm) — trả lời "我是昨天来的" (wǒ shì zuó tiān lái de) (Tôi đến LÀ VÀO hôm qua). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt không có cấu trúc ngữ pháp CHUYÊN BIỆT tương đương — thường chỉ dựa vào TRỌNG ÂM/NGỮ ĐIỆU khi nói để nhấn mạnh phần muốn hỏi rõ ("Bạn ĐẾN HÔM QUA à?" nhấn giọng vào "hôm qua"), không có cặp từ ngữ pháp cố định bao quanh như 是...的. Đây là lý do người Việt hay QUÊN dùng cấu trúc này, chỉ nói câu tường thuật đơn giản ("你什么时候来" (nǐ shén me shí hòu lái) - thiếu 是...的) dù về ngữ pháp vẫn đúng nhưng MẤT đi sắc thái nhấn mạnh đặc trưng. PHÂN BIỆT VỚI 了: 是...的 chỉ dùng khi sự việc CHÍNH đã được biết/xác nhận, chỉ còn hỏi/nhấn CHI TIẾT — còn 了 dùng khi thông báo 1 sự việc HOÀN TOÀN MỚI, người nghe CHƯA BIẾT. So sánh "我去了北京" (wǒ qù le běi jīng) (tôi ĐÃ ĐI Bắc Kinh — tin mới, người nghe chưa biết) với "我是去北京的" (wǒ shì qù běi jīng de) (tôi đi LÀ ĐẾN Bắc Kinh [chứ không phải nơi khác] — người nghe đã biết tôi có đi đâu đó, giờ nhấn rõ ĐÍCH ĐẾN).

Câu liên động (连动句 liándòngjù): nhiều động từ nối tiếp — 连动句 HSK3

Câu liên động (连动句): 1 CHỦ NGỮ DUY NHẤT với NHIỀU ĐỘNG TỪ xuất hiện LIÊN TIẾP, không cần liên từ nối, diễn tả các hành động xảy ra THEO TRÌNH TỰ hoặc động từ sau nêu MỤC ĐÍCH của động từ trước. Ví dụ: "我去商店买东西" (wǒ qù shāng diàn mǎi dōng xī) (Tôi đi cửa hàng mua đồ — 去 và 买 đều do "tôi" thực hiện, liên tiếp không cần từ nối như "và"/"để"). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt CŨNG cho phép ghép nhiều động từ liên tiếp không cần liên từ trong nhiều trường hợp tương tự ("Tôi đi chợ mua rau" — không cần "và"/"để" ở giữa), nên về mặt CẢM GIÁC câu, khá gần gũi. Điểm khác biệt tinh tế: tiếng Trung câu liên động THỰC SỰ không dùng liên từ nối (是 KHÔNG NÓI "我去商店和买东西" (wǒ qù shāng diàn hé mǎi dōng xī) — sai, vì 和 chỉ nối danh từ chứ không nối được 2 động từ như đã nói ở mục Liên từ), trong khi tiếng Việt đôi khi vẫn CÓ THỂ chèn "để" nếu muốn nhấn mạnh mục đích ("đi chợ ĐỂ mua rau") mà câu vẫn tự nhiên — tiếng Trung nếu muốn nhấn mục đích rõ ràng hơn thường dùng cấu trúc khác (来/去 + động từ, hoặc 为了) chứ ít khi chêm từ nối giữa 2 động từ liên động thông thường. ĐIỀU KIỆN NHẬN DIỆN: phải có CHUNG 1 chủ ngữ cho tất cả động từ (khác câu kiêm ngữ — xem mục riêng, nơi tân ngữ của động từ 1 lại là chủ ngữ của động từ 2), và các động từ phải LIÊN QUAN chặt chẽ về mặt thời gian/mục đích (không phải 2 hành động độc lập rời rạc).

Câu tồn tại (存现句 cúnxiànjù) — 存现句 HSK3

Câu tồn tại (存现句): Nơi chốn + Động từ (+着/了) + Danh từ — diễn tả sự TỒN TẠI/XUẤT HIỆN/BIẾN MẤT của sự vật ở 1 nơi chốn, với TRẬT TỪ ĐẶC BIỆT: nơi chốn đứng ĐẦU câu (làm chủ ngữ), danh từ chỉ sự vật lại đứng CUỐI câu làm tân ngữ (dù về logic sự vật đó mới là "chủ thể tồn tại"). Ví dụ: "桌子上放着一本书" (zhuō zi shàng fàng zhe yì běn shū) (Trên bàn ĐẶT [tồn tại] một quyển sách — 桌子上 mở đầu câu dù không phải chủ ngữ theo nghĩa thông thường). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt CÓ cấu trúc tương đồng gần như HOÀN HẢO về trật tự — "TRÊN BÀN có/để một quyển sách" cũng đặt nơi chốn lên đầu câu y hệt tiếng Trung, khác hẳn câu thông thường "Một quyển sách ở trên bàn" (đặt sự vật lên trước). Đây là điểm THUẬN LỢI cho người Việt vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ đã "quen" với việc đảo trật tự này khi muốn nhấn mạnh ĐỊA ĐIỂM. 3 GIAI ĐOẠN của câu tồn tại tương ứng 3 trợ từ khác nhau sau động từ: 着 cho TRẠNG THÁI đang tồn tại tĩnh tại ("墙上挂着一幅画" (qiáng shàng guà zhe yì fú huà) - trên tường treo 1 bức tranh), 了 cho sự XUẤT HIỆN/BIẾN MẤT vừa xảy ra ("班里来了一个新同学" (bān lǐ lái le yí gè xīn tóng xué) - lớp vừa có 1 bạn mới đến), hoặc động từ trơn không cần trợ từ khi nói chung chung về sự có mặt.

Quan hệ giả định: 如果/要是……就…… rúguǒ/yàoshi...jiù... / 哪怕/即使……也…… nǎpà/jíshǐ...yě... — 如果就 HSK3

2 mức độ GIẢ ĐỊNH: 如果/要是……就…… (rúguǒ/yàoshi...jiù...) cho GIẢ ĐỊNH THÔNG THƯỜNG ("如果明天不下雨,我们就去公园" (rú guǒ míng tiān bú xià yǔ , wǒ men jiù qù gōng yuán) - Nếu mai không mưa, chúng ta sẽ đi công viên); 哪怕/即使……也…… (nǎpà/jíshǐ...yě...) cho GIẢ ĐỊNH CỰC ĐOAN mà kết quả VẪN GIỮ NGUYÊN dù điều kiện có khắc nghiệt đến đâu ("即使下大雨,我也要去" (jí shǐ xià dà yǔ , wǒ yě yào qù) - Dù có mưa to, tôi vẫn phải đi). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: "nếu... thì..." và "dù cho/dù có... vẫn..." đều có tương đương RẤT SÁT trong tiếng Việt, không phải điểm khó lớn về ý nghĩa. Khác biệt cần lưu ý: 就 trong 如果...就... KHÔNG PHẢI dịch máy móc là "thì" theo nghĩa hệ quả logic thông thường mà còn mang sắc thái "NGAY LẬP TỨC/DỄ DÀNG dẫn tới" — nên đôi khi câu tiếng Trung nghe "chắc chắn hơn" tiếng Việt "nếu...thì..." vốn trung tính hơn. PHÂN BIỆT 如果 và 即使: 如果 dùng cho điều CÓ THỂ KHÔNG XẢY RA và kết quả PHỤ THUỘC vào điều kiện đó; 即使 dùng khi kết quả KHÔNG ĐỔI dù điều kiện (dù cực đoan) có xảy ra hay không — nhầm 2 cấu trúc này khiến câu mất đi ý nghĩa "bất chấp" đặc trưng của 即使.

Quan hệ chuyển折 (đối lập): 虽然……但是…… suīrán...dànshì... / 尽管……却…… jǐnguǎn...què... — 虽然但是 HSK3

Cặp liên từ ĐỐI LẬP: 虽然……但是…… (suīrán...dànshì...) / 尽管……却…… (jǐnguǎn...què...) — mệnh đề sau ĐỐI LẬP với điều mệnh đề trước gợi ý, tương đương "mặc dù... nhưng...". Ví dụ: "虽然下雨,但是我们还是出门了" (suī rán xià yǔ , dàn shì wǒ men hái shì chū mén le) (Mặc dù trời mưa, nhưng chúng tôi vẫn ra ngoài). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: "mặc dù... nhưng..." là cấu trúc SONG SONG gần như hoàn hảo với tiếng Trung, ít gây lỗi về ý nghĩa. Điểm cần lưu ý: tiếng Trung 但是/却 là BẮT BUỘC PHẢI CÓ ở vế 2 (không được bỏ), trong khi tiếng Việt đôi khi có thể lược "nhưng" trong văn nói nếu ngữ điệu đã đủ rõ ("Mặc dù trời mưa, chúng tôi vẫn ra ngoài" — vẫn hiểu được dù thiếu "nhưng") — tiếng Trung KHÔNG được phép lược tương tự, thiếu 但是/却 sẽ khiến câu không trọn vẹn về ngữ pháp. 尽管 mang sắc thái NHƯỢNG BỘ MẠNH HƠN 虽然 (gần với "dù cho/bất kể" hơn là "mặc dù" trung tính), thường dùng trong văn viết/trang trọng hơn.

Bổ ngữ khả năng: Động từ + 得/不 de/bù + Bổ ngữ — 可能补语 HSK4

Cấu trúc Động từ + 得/不 (de/bù) + Bổ ngữ (thường là bổ ngữ kết quả hoặc xu hướng) để nói khả năng LÀM ĐƯỢC hay KHÔNG LÀM ĐƯỢC: "听得懂" (tīng dé dǒng) (nghe HIỂU ĐƯỢC) / "听不懂" (tīng bù dǒng) (nghe KHÔNG HIỂU được), "回得来" (huí dé lái) (về ĐƯỢC) / "回不来" (huí bù lái) (không về ĐƯỢC). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: tiếng Việt CÓ cấu trúc tương đồng khá thú vị — "nghe HIỂU được"/"nghe không hiểu ĐƯỢC" cũng chèn "được"/"không được" vào giữa động từ và kết quả, gần giống cơ chế 得/不 của tiếng Trung! Đây là 1 trong số ít điểm ngữ pháp mà cấu trúc 2 ngôn ngữ khá song song, giúp người Việt dễ nắm hơn người học tiếng Anh (tiếng Anh phải dùng cấu trúc hoàn toàn khác như "can/can't understand by listening"). PHÂN BIỆT VỚI ĐỘNG TỪ NĂNG NGUYỆN 能/可以: bổ ngữ khả năng (听得懂) nhấn vào KHẢ NĂNG THỰC HIỆN ĐƯỢC VỀ MẶT KỸ THUẬT/NĂNG LỰC dựa trên tình huống cụ thể ngay lúc đó (vd tiếng ồn quá lớn nên "听不清楚" (tīng bù qīng chǔ) - nghe không rõ), trong khi 能/可以 nhấn vào ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN hoặc SỰ CHO PHÉP nói chung ("我能听懂中文" (wǒ néng tīng dǒng zhōng wén) - tôi CÓ THỂ [đủ trình độ] nghe hiểu tiếng Trung, mang tính khái quát hơn) — 2 cách diễn đạt gần nghĩa nhưng SẮC THÁI hơi khác, người mới học thường dùng lẫn vì tiếng Việt "có thể/được" không phân định rạch ròi như vậy.

Quan hệ tăng tiến: 不但……而且…… bùdàn...érqiě... / 不仅……还…… bùjǐn...hái... — 不但而且 HSK4

Cặp liên từ TĂNG TIẾN: 不但……而且…… (bùdàn...érqiě...) / 不仅……还…… (bùjǐn...hái...) — mệnh đề sau bổ sung Ý MẠNH HƠN/NHIỀU HƠN mệnh đề trước, cả 2 vế đều CÙNG HƯỚNG (cùng khen hoặc cùng chê). Ví dụ: "这家餐厅不但便宜,而且好吃" (zhè jiā cān tīng bú dàn pián yi , ér qiě hǎo chī) (Quán này không những rẻ, mà còn ngon). SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT: cấu trúc "không những... mà còn..." của tiếng Việt gần như SONG SONG hoàn toàn với tiếng Trung về cả ý nghĩa lẫn vị trí — đây là 1 trong những cặp liên từ DỄ HỌC nhất cho người Việt vì gần như dịch được từng từ một. LƯU Ý: khi CHỦ NGỮ của 2 vế GIỐNG NHAU, có thể đặt 不但 SAU chủ ngữ ("他不但聪明,而且努力" (tā bú dàn cōng ming , ér qiě nǔ lì) - Anh ấy không những thông minh mà còn chăm chỉ); nhưng khi 2 vế có CHỦ NGỮ KHÁC NHAU, 不但 phải đứng TRƯỚC chủ ngữ của vế đầu ("不但他聪明,而且他姐姐也聪明" (bú dàn tā cōng ming , ér qiě tā jiě jie yě cōng ming) - Không những anh ấy thông minh mà chị anh ấy cũng thông minh) — quy tắc vị trí này cần chú ý vì tiếng Việt không có ràng buộc tương tự.

▶ Học bài này (có audio + bài tập)